Chùa Định Quang
Thuỷ Phương,Hương Thuỷ, Thừa Thiên Huế
Thứ Bảy, ngày 04 tháng 09, năm 2010 - Âm Lịch: Ngày 26 Tháng 7 Năm Canh Dần
English  |  Ra Chùa   |  Trang Nhà   |  Lịch Giảng   |  Thông Báo   |  Chuyên Đề   |  Diễn Đàn   |  Pháp Âm   |  Âm Nhạc   |  Các Trang Bạn   |  Hình ảnh   |  Login     
Nguyện Cho Tất Cả Chúng Sanh Đừng Có Oan Trái Lẫn Nhau,Hãy Cho Được Sự Tấn Hoá,Sự Lợi Ích,Sự An Vui Lâu Dài

  • Đức Đệ IV Tăng Thống -Hòa thượng Thích Huyền Quang viên tịch
  • Chúc Thư của Đệ tứ Tăng thống Thích Huyền Quang
  • Lễ công bố Chúc Thư của Đệ tứ Tăng thống Thích Huyền Quang
  • Ý kiến công luận về Chúc Thư của Hòa thượng Huyền Quang


  • Hòa thượng Quảng Độ trở thành lãnh đạo cao nhất của GHPGVNTN


  • Lễ chung thất Đức Đệ IV Tăng Thống GHPGVNTN Cố Đại Lão HT Thích Huyền Quang tại Chùa Quang Thiện, Nam California


  • Chùa Định Quang

     

     

    Chùa Định Quang là một trong 6 ngôi chùa hiện nay của Phật Giáo Nguyên Thuỷ Thừa Thiên Huế,ngôi chùa này được xây dựng trên quê hương của Đức cố Tăng thống Giới Nghiêm;chùa nằm cách trung tâm Thành phố Huế khoảng 6 km về hướng đông nam,toạ lạc tại làng Dạ Lê,xã Thuỷ Phương,huyện Hương Thuỷ,TT-Huế.

    Chùa Định Quang được các vị Phật tử tín tâm của Ngài Giới Nghiêm mua đất và xây dựng vào năm 1962.Căn cứ bản sao hoạ đồ thì diện tích đất lúc các Phật tử của Chi Hội Phật Giáo Nguyên Thuỷ Dạ Lê mua là 3 sào 7 thước 5 tấc (1739m2),có hình chữ nhật,với  chiều dài được thể hiện trong bản đồ là 50m,chiều rộng hơn 30m. Diện tích và khuôn viên này ổn định từ năm 1962 tới 1975. Chùa Định Quang được xây dựng theo lối kiến trúc thuần tuý của  Phật Giáo Nam Tông, Ngôi chánh điện rộng khoản 50m2 và có khu Tăng xá 3 gian nằm bên trái chánh điện(hiện nay khu Tăng xá không còn).Sau khi mua đất và xây dựng chùa Định Quang vào năm 1962,Chi hội Phật giáo Nguyên Thuỷ Dạ Lê đã dâng cúng lên Giáo hội Tăng-già Nguyên Thuỷ Việt Nam(tiền thân của Hệ pháiPhật Giáo Nam Tông hiện nay),dưới sự chứng minh và thọ nhận của Đức Tăng Thống Giới Nghiêm và chư Tăng của Giáo hội TGNTVN.

    Sau khi khánh thành và thọ nhận chùa xong chư Tăng chỉ định cho những Phật tử thuộc Chi hội Phật giáo Nguyên Thuỷ Dạ Lê chăm sóc và quản lý ngôi chùa Định Quang này. Hằng năm vào mùa an cư,Chi hội Phật giáo Nguyên thuỷ Dạ Lê cung thỉnh chư Tăng về an cư nhập hạ và hướng dẫn cho những Phật tử tu học,truyền thống tốt đẹp ấy vẫn được duy trì cho đến 1975.

    Sau ngày đất nước thống nhất,cùng với nhiều lý do tế nhị khác,UBND xã Thuỷ Phương lấy Chánh điện chùa Định Quang sử dụng làm kho chứa gạo(1975-1986).

    Năm 1987 UBND xã Thuỷ Phương  không hiểu đã căn cứ vào điều luật nào của pháp luật,không có bất kỳ một văn thư thông báo thu hồi đất nào cho Chi hội Phật giáo Nguyên thuỷ Dạ Lê hoặc Tỉnh Giáo Hội  Phật Giáo Việt Nam mà đã tuỳ tiện lấy đất chùa Định Quang  cấp cho 1 hộ đảng viên cán bộ xã làm nhà,hiện nay khi chúng tôi viết bài này, chùa vẫn chưa chuộc lại được phần đất hợp pháp của Tam bảo.

    Thời gian thấm thoát trôi qua,những Phật tử kỳ cựu của Chi hội Phật Giáo Dạ Lê lần lượt từ trần,nhận thấy chùa mỗi năm mỗt xuống cấp trầm trọng tháng 7 năm 2002 các Phật tử trong chi hội đã làm thủ tục xin bàn giao toàn bộ cơ sở gồm đất đai và ngôi chánh điện lại cho Hệ phái Nam Tông TT-Huế thuộc GHPGVN. Tỉnh Giáo Hội đã tiếp nhận và ngày 8/3/2004 tỉnh Giáo hội đã ra công văn bổ nhiệm Thượng toạ Pháp Tông trụ trì.

    Ngày 29 tháng 5 năm 2005 chư Tăng đã về làm lễ nhập tự,có đại diện chính quyền các cấp và đông đảo chư thiện tín tham dự. Ngày 21/6/2005 Thượng toạ Pháp Tông đề cử Đại đức Chơn Hữu và sư Minh Hiền về trông coi chùa và hướng dẫn Phật tử tu học.

    Từ 6/2005 tới nay 7/2007: Sau ngày chùa có trụ trì và 2 sư về tới nay đã có một vài dấu hiệu tiến triển nhỏ như sau:

    -                     Khôi phục lại Chi hội Phật giáo Nguyên Thuỷ Dạ Lê.-                     Thường xuyên giảng dạy giáo Pháp,và sinh hoạt tu tập vào những tối 5,7,CN hang tuần,14,15,30,mùng1 hàng tháng tại chùa Định Quang.

    -                     Thượng toạ Pháp Tông đã truyền quy giới cho hơn 100 tân Phật tử.

    -                     Thành lập gia đình Phật tử thiếu niên và thiếu nhi.

    -                     Nhà chùa đã phối hợp với chính quyền địa phương làm từ thiện ,cứu trợ cho đồng bào bị thiên tai,tài trợ xe lăn cho những đồng bào bị tật nguyền và đang tiến hành kế hoạch giúp đỡ cho những nạn nhân nhiễm chất độc da cam…

    Tuy nhiên,hiện này tình trạng đất đai bị lấn chiếm của chùa Định Quang vẫn đang chờ các cấp chính quyền giải quyết.Ngôi chánh điện thờ Phật vẫn tiếp tục xuống cấp,mặc dù chư sư đã nhiều lần sữa chữa nhưng mùa mưa đến chùa vẫn bị thấm dột . Nơi ở của chư Tăng vẫn chưa có,quý sư vẫn ở tạm trong chánh điện. Hy vọng trong một ngày không xa Chùa Định Quang sẽ khôi phục lại được vóc dáng của một ngôi tổ đình trên đất Cố Đô như ngày xưa Đức  cố Tăng Thống Giới Nghiêm đã từng tác ý.

    Viết tại chùa Định Quang 7/2007,

    Tỳ khưu Chơn Hữu,

     

     


     

    THIÊN NHIÊN NGƯỜI BẠN TINH THẦN

    Chơn Hữu

     

    Nếu chúng ta biết trở về với thiên nhiên sau những gì lo toan, bận rộn, phiền muộn… ta sẽ cảm nhận được thiên nhiên chính là người bạn tinh thần thân thiết nhất của con người. Thiên nhiên luôn sẵn sàng đón nhận và trao tặng cho ta những ý nghĩa tuyệt diệu của cuộc sống.

    Một khung trời xanh êm dịu, một không gian thơm ngát hương rừng, những làn gió mát, những sợi nắng giăng giăng… tất cả là những lời tâm tình bí mật – mà bí mật thì không thể nói ra ngoài, chỉ có người trong cuộc mới biết được. Bí mật của thiên nhiên là bí mật của thời gian, của không gian - một bí mật vô cùng, vô tận…

    Một ngày dạo chơi trong thiên nhiên, ta sẽ có được rất nhiều cảm xúc hồn nhiên, trong sáng làm cho ta cảm nhận được sự thăng hoa của nội tâm mình. Đồng thời, thiên nhiên cũng là chiếc cầu nối đưa ta quay vào bên trong để lắng nghe được chốn im lặng nhưng luôn xáo động của dòng tâm tư sinh sinh diệt diệt.

    Hãy lắng nghe thiên nhiên, lắng nghe núi, lắng nghe rong rêu… lúc bấy giờ ta sẽ nghe được điều huyền nhiệm từ sự sống bao la kỳ diệu - một loại ngôn ngữ mà không còn phải là ngôn ngữ của khái niệm qui ước nữa.

    Giữa chốn trần gian khói bụi, động cơ gào rú ồn náo… chợt bắt gặp thiên nhiên đã hoá thành bảng hiệu từ bao giờ. Những quán cà phê, nhà hàng với những cái tên “gió núi”. “sông xanh”… Gió hiu hiu, vi vu… sông như lụa, như tơ thế mà giờ này chỉ là những bảng hiệu điện tử… hỏi sao không ngạc nhiên?

    Do bản ngã con người cứ ngỡ mình là trung tâm của vũ trụ, cho nên nhiều người không còn hoặc không cần tôn trọng thiên nhiên, mà ra sức thụ hưởng và cưỡng đoạt người bạn này bằng những hành động tàn phá, khai thác, vắt kiệt những tài nguyên khoáng sản. Vì mục đích xa hoa, hay chỉ do hiếu kỳ. thoả mãn lòng tham dục không bến bờ của mình? Và rồi nguồn thiên nhiên bao la đã bị tổn thương nặng nề, không còn đủ sức để che chở con người trước những thiên tai khốc liệt nữa.

    Con người, bằng rất nhiều cách để tạo cho mình hạnh phúc. Phần đông họ nghĩ rằng, hạnh phúc thật sự là khi đời sống vật chất đầy đủ và dư thừa. Mấy ai biết rằng điều ấy chính là một khổ nạn của con người, vì sẽ đến một lúc nào đó người ta sẽ thấy vật chất không thể giúp ích gì được cho tinh thần, vật chất luôn luôn ở bên này của giới hạn.

    Thời hiện đại, rõ ràng con người không có nhiều thời gian để nghỉ ngơi. Vì thế, những vấn đề như “cuộc sống khô khan”, “stress”, “lạc lõng”… càng ngày càng tăng, nếu ta cứ tiếp tục dính mắc nơi phương tiện vật chất, và cuộc sống có khả năng đi đến bế tắc.

    Nếu nhận thức được giá trị của cuộc sống vốn là sự tương quan mật thiết giữa thiên nhiên và con người. Một khi đã nhận thức được giá trị của thiên nhiên chính là môi trường sống của con người, ta phải bảo vệ thiên nhiên như bảo vệ chính bản thân mình. Lúc ấy, ta sẽ yêu thương thiên nhiên vô cùng. Trong tình yêu thương ấy, ta sẽ cảm nhận được tiếng nói của thiên nhiên như là những lời kinh tuyệt tác. Thiên nhiên là một người bạn chân thành luôn luôn mời gọi ta trở về sống an lành hoà hợp, cho hạnh phúc tinh thần mãi mãi thăng hoa.

     


    HIỆN TẠI AN LÀNH

    Chơn Hữu

     

    Thời gian như những đám mây trắng lững lờ trôi trên nền trời trong xanh. Những chú chim đang líu lo khắp cả khu rừng. Mấy bông cỏ dại bên triền đồi khiêm nhường khoe sắc thắm như đang hân hoan trong những khoảng khắc đang là…

    Hiện tại luôn an lành khi ta biết mở trái tim mình ra với vạn vật xung quanh; và khi ấy ta sẽ cảm nhận những điều tuyệt diệu mà sự sống luôn luôn ban tặng. Một chiếc lá vàng rơi bên kia lối mòn, tiếng côn trùng vang vang như đang ẩn hiện đâu đó, những tia nắng lấp lánh trên những thân cây… tất cả đều chứa chan sự tương hoà, bình đẳng, không phân biệt của sự sống bao la muôn thuở.

    Nếu chúng ta biết trở về nơi hiện tại đang là, nhìn ngắm vạn vật với tâm tư hồn nhiên, ta chợt thấy ra những điều mới lạ, hạnh phúc vốn trọn vẹn ở nơi đây và bây giờ. Tất cả mọi thứ trên cuộc đời dù quý giá đến đâu cũng chỉ là vô nghĩa nếu chúng ta sống hời hợt trên bề mặt của tâm trí và bỏ quên hiện tại đang là, mà ở đó nhịp sống luôn dạt dào vô tận!

    Trở về hiện tại để nhận chân được bản chất của cuộc đời, của con người và của vạn vật vốn là một nguồn sống trôi chảy không ngừng trong tình yêu bao dung, vô ngã.

    Vâng, trở về hiện tại, không phải để tìm kiếm hay cầu khấn điều gì; mà chỉ giản đơn nhìn ngắm và lắng nghe những gì bên trong và quanh ta. Ngay lúc ấy, ta sẽ hưởng được niềm hạnh phúc sâu thẳm lạ lùng, trong từng khoảng khắc an lành của hiện tại.

     

     

     


    TẢN MẠN XUÂN TINH KHÔI

    Chơn Hữu

     

     

    Những giọt sương lấp lánh. Một chồi non mới nhú. Ồ! Mùa xuân đã về!

    Sau những ngày rét mướt của mùa đông khắc nghiệt, xuân rồi cũng về theo đúng lộ trình bất di bất dịch của nó.

    Nếu người ta nghĩ rằng, mùa đông là mùa của sương bay và tuyết lạnh, mùa của cô đơn giá buốt, của chia xa tan vỡ, mùa làm cho cây cối trụi lá…; thì mùa xuân đem lại nhiều điều tốt đẹp: sự hồi sinh cho vạn vật qua sắc màu tươi xanh tràn đầy khát vọng, chim chóc nô nức vang rân đón chào nàng xuân, muôn hoa đua nhau khoe sắc thắm như đang ngợi ca sự sống dạt dào.

    Bản chất của vạn vật vốn uyển chuyển, luân lưu trong định luật vô thường. Trong cái định luật ấy, những đổi thay tiếp nối đổi thay; sau mùa xuân chắc chắn là mùa hè oi bức với những tia nắng sôi động; rồi mùa thu theo sau với những gam màu buồn bã, những lối đi về xào xạc lá vàng rơi sẽ làm nên một không gian man mác, vô vàn mơ mộng.

    Trong dòng thời gian biến chuyển không ngừng ấy, vạn hữu vẫn vậy – an nhiên thường tại giữa vô thường.

    Chúng sinh thì khác, vốn là loài có tình nên từ thuở sơ hoang, người ta đã biết rung cảm theo những đổi thay của thiên nhiên huyền nhiệm. Khi nhận ra được những khoảng thời gian khác nhau bằng kinh nghiệm từ sự sống nhiệm mầu, chúng sinh thường khoác ý niệm và tình cảm của mình lên trần cảnh; rồi từ đó, lòng tham đeo níu hoặc chối bỏ những gì bất như ý khiến chúng sinh chơi vơi trong khổ cảnh của định luật vô thường.

    Mỗi cuộc đời thường có được bao nhiêu mùa xuân? Không ai dám quả quyết điều đó cả! Trong dòng thời gian mênh mông vô cùng vô tận thì mọi cái hiện hữu cứ xa dần, tan dần rồi biến mất trước hư vô. Vậy, có phải chăng mùa xuân nào cũng chỉ là ảo ảnh?

    “Xuân khứ bách hoa lạc, xuân đáo bách hoa khai…”. Hoa nở thì hân hoan, hoa tàn thì buồn bã. Ôi! Chính nỗi vui buồn kia làm chúng sinh quay cuồng trùng trùng trong mờ mịt. Có ai đó còn oán trách con tạo vô tình làm cho chúng sinh muôn đời khổ đoạ.

    Tất cả sự đổi thay của vạn hữu là những gì rất bình thường trong cuộc sống.

    Lá xanh rồi sẽ vàng,  tóc xanh rồi sẽ bạc, nét hồng rồi sẽ phai… ấy là những điều bình thường!

    Tuổi trẻ rồi sẽ già, trái tim rồi sẽ lạnh, mùa xuân rồi sẽ qua… ấy là những điều bình thường!

    Núi rừng rồi sẽ thành sa mạc, biển hồ rồi sẽ thành đồng hoang, đời người rồi sẽ trôi về cõi chết… ấy là những điều bình thường!

    Nhưng tại sao chúng sinh vẫn tiếc nuối, khóc than vì những điều bình thường ấy?

    Nếu có được một sự tĩnh lắng cần thiết để nhìn xuyên suốt qua những điều bình thường, ai đó sẽ thấy được vẻ đẹp nguyên sơ ẩn hiện đằng sau của qui trình luân phiên tiếp nối. Cái này qua đi để nhường chỗ cho cái khác xuất hiện. Hoa tàn để rồi hoa lại nở. Mùa đông qua để mùa xuân đến. Và sự chết nữa, phải đến để nở ra sự sống!

    Các diễn biến đổi thay của mọi sự mọi vật là do bản chất của chúng chi phối; do vậy, sự đổi thay là điều tự nhiên, bình thường mà sự phản ánh của bản chất ấy cũng tự nhiên, bình thường.

    Khi trở nên trong lành và định tĩnh hơn thì chúng ta có thể có được cái nhìn thấu suốt. Mấu chốt thật sự chính là sự sáng suốt! Và khi sáng suốt, chúng ta có thể nhìn thấy những ý niệm cũng như vạn vật cứ sinh diệt trong quy trình biến đổi vô ngã tính của pháp. Dĩ nhiên là, lúc ấy một cái thấy mới xuất hiện, vạn vật hiện ra tinh khôi; và ở đó, mùa xuân dường như vô tận… châu toàn và tuyệt bích vậy.

     

     

     


     

    TRI ÂN MỘT NỤ CƯỜI

    Chơn Hữu

     

     

    Là người con Phật đang thực hành giáo pháp nhằm giải thoát cá nhân khỏi khổ đau, và để có được một đời sống hạnh phúc, tự tại giữa cuộc trầm luân sanh tử; việc thực hành ấy cũng chính là cuộc hành trình miên viễn mà mỗi người phải bước đi trong đơn độc, trong khói sương bãng lãng, trong mông lung huyền ảo của cõi tâm thức vô hình vô ảnh.

    Đâu đó trên đường tìm về tự tánh là những vực thẳm đang chực chờ nuốt chửng những nạn nhân vô ý, hoặc là những đỉnh sầu cao ngất như muốn cản ngăn những bước chân đầy nhiệt huyết.

    Cuộc lên đường khám phá nào cũng  mang dáng vẻ bi tráng! Những hành giả đi tìm tự do, ngay từ lúc khởi hành, đã cảm nhận cuộc đời mình bắt đầu đổi khác, vì thực hiện những lời dạy của đức Phật chính là thực hiện một cuộc lội ngược dòng ngoạn mục.

    Chân lý là một điều rất khó truyền đạt, diễn tả băng ngôn từ, bởi chân lý vốn vượt khỏi sự giới hạn của ngôn ngữ qui ước. Khi đối diện với thực tại đang là, nếu ta không thể chọc thủng được lớp ảo tưởng mênh mông… ta chợt thấy ra mình không thể nắm bắt được gì, dù chỉ là một ý niệm của ảo giác. Và khi đó dường như cái gọi là “tiến thoái lưỡng nam” ở đâu bỗng dưng xuất hiện, vây phủ ta vào giữa bốn bề trầm tĩnh trong cảnh cô đơn tuyệt cùng.

    Có lẽ ngay từ đầu, những ai tự nguyện dấn bước đều đã chấp nhận trang trải đời mình cho con đường đơn độc. Và tự trong cội nguồn sâu thẳm của tâm tư, đã dâng lên một nguồn can đảm, can cường, hào khí ngút ngàn hướng đến tự do giải thoát, mặc dầu sự tự do tâm linh ấy không dễ gì thành tựu.

    Nhập vào cuộc hành trình hướng về sự giải thoát, nghĩa là chuyển hoá tận tâm can, chấp nhận cô đơn, đối diện với chính mình để trực tiếp nhìn thấy bản chất của tất cả pháp đều vô ngã tính. Cuộc hành hương tâm linh với lòng chân thành, sự nhạy cảm cùng đức tin mãnh liệt tưởng như sẽ dễ dàng thuận thứ, hoá ra lại vô cùng trắc trở. Đôi khi vừa mới rạng rỡ kiên định bỗng trở thành hoang mang chới với, hụt hẫng trước hư vô bàng bạc.

    Những lúc thất vọng ê chề như thế, những lúc mà nội tâm xung đột dữ dội, khiến bao lần đã muốn đầu hàng, muốn bỏ cuộc… bất chợt, nụ cười an lành của Ngài hiện về trong con, giúp con vượt lên tất cả xao động, rối bời!

    Hình ảnh nụ cười bao dung, ân cần và tự tại của Thế Tôn như chính những bài kinh đầy minh triết, như bóng mát tĩnh lặng xoa dịu bao nóng cháy của tâm hồn. Chính nụ cười trên môi đức Phật cũng không khác con đường vô thượng mà Ngài đã chỉ dạy và mời gọi chúng sanh tự mình chứng nghiệm.   

     


    HOA SEN CÒN ĐỌNG GIỌT SƯƠNG

    Chơn Hữu

    Mỗi mùa hoa sen nở, khắp nơi trong hư không như phảng phất mùi hương dịu dàng thanh khiết. Trong không khí tuyệt diệu đó, những Phật giáo đồ khắp nơi trên trái đất hân hoan đón chào đại lễ kỷ niệm ngày Đức Phật đản sanh. Theo tinh thần Kinh điển Phật giáo Nguyên thuỷ, rằm tháng tư, ngoài ý nghĩa Đức Phật đản sanh, còn mang hai ý nghĩa trọng đại khác: ngày Đức Phật thành đạo và ngày Đức Phật Đại bát Niết bàn.

    Có đi qua những hồ sen đang nở vào mùa tháng tư, mà phải với một tâm hồn thật sự tỉnh lắng ta mới thấy được vẻ đẹp diệu kỳ của sen. Những búp sen hàm tiếu nghiêng nghiêng, những đài sen lấp lánh ánh vàng, hay những cánh sen xinh tươi trong vóc dáng trang nhã đến lạ thường, ta mới hiểu vì sao loài hoa này được dung làm biểu tượng trong đạo Phật. Hoa sen quả là một biểu tượng mang nhiều ý nghĩa để tượng trưng cho hình ảnh của Đức Phật, của chân lý hay của một nhân cách vĩ đại giữa cuộc đời ác uế và bùn lầy nước đọng nầy.

    Đức Phật xuất hiện như một người bình thường. Nhưng, từ con người bình thường ấy đã bằng hành động của chính mình để hoàn thiện một nhân cách phi thường với trí tuệ siêu việt.

    Thuở bé thơ, cứ mỗi lần theo mẹ lên chùa vào ngày Phật đản, tôi thường thán phục hình ảnh Thái tử sơ sinh đứng trên hoa sen một tay chỉ trời một tay chỉ đất… và rồi lại say mê nghe mẹ kể chuyện Bồ-tát Đản sanh, dù đã được nghe chuyện ấy rất nhiều lần.

    Tháng ngày lặng lẽ trôi, khi càng lớn thì lý trí càng trưởng thành, nhưng những tưởng tượng và niềm tin về sự kiện Đức Phật Đản sanh của tuổi thơ ngây vẫn còn mãi trong tôi. Có hình tượng nào đẹp và thanh khiết hơn thế? Vâng! Có thể bạn không đồng ý. Nhưng, tôi vẫn tin rằng: khi hoàng hậu Mahàmaya với tay ra hái hoa thì đức Bồ tát bước ra từ bên hông của bà giống hệt như một vị pháp sư bước xuống pháp toà. Tứ đại Thiên Vương giăng võng vàng nâng đỡ, Đại Long vương phun nước tắm Ngài, các tầng trời đều rải hoa chúc tụng, thế gian khắp nơi hân hoan. Vừa sinh ra, Bồ tát liền bước đi bảy bước, mỗi bước chân Ngài đều có hoa sen nâng gót. Ngài dừng lại ở bước thứ bảy, chỉ trời đất và tuyên ngôn: “TA là bậc tối thượng giữa muôn loài, kiếp này là kiếp chót của ta…”

    Nếu bạn là người duy thực, có thể bạn cho đấy là chuyện lạ! Sao lại không? Khi chính sự kiện Đức Phật xuất hiện đã là một chuyện lạ và vô cùng hy hữu trên cuộc đời này! Bạn có thể tin cũng được mà không cũng được vì điều ấy không thật sự quan trọng. Nhưng, nếu bạn là người sâu sắc, là người có thực hành Giáo pháp của Đức Phật, thì chắc chắn rằng bạn sẽ cảm nhận được hương vị của pháp giải thoát khổ đau do Đức Phật chứng ngộ và giảng dạy. Vì cốt tuỷ của sự việc Đức Phật xuất hiện là để chỉ dạy con đường giải thoát, nhằm cứu giúp chúng sinh đang trầm luân trong luân hồi thống khổ.

    Dù Đức Phật có xuất hiện hay không, thì chân lý vẫn luôn có mặt nơi trần gian này, nhưng phải có Đức Phật xuất hiện để khám phá thì lúc ấy chân lý mới được hiển lộ; và những người có chí hướng tìm kiếm chân lý mới có khả năng thành tựu được mục đích cao thượng nhất của cuộc đời.

    Trước khi Đức Phật Thành đạo, chúng sanh bị chìm đắm trong vô minh và lầm lạc. Khi chân lý chưa được đấng Từ Phụ khám phá, chúng sanh mò mẫm trong bóng tối. Mọi cuộc tìm kiếm của những kẻ khao khát giải thoát đều bị bế tắc. Từ những đạo sĩ khổ hạnh cho đến những người tận hưởng vật chất đều không tìm được niềm hạnh phúc chân thật. Chỉ có một người duy nhất, tìm ra con đường duy nhất thoát khỏi khổ đau sinh tử luân hồi. Con người vĩ đại và con đường hạnh phúc ấy vẫn còn tiếp tục cứu giúp cho vô số chúng sanh đến tận bây giờ và còn được giữ gìn rất trân trọng cho những chúng sanh khác trong ngày vị lai.

    Câu chuyện về những giọt nước mắt của Đạo sĩ A-tư-đà mãi mãi là những hình tượng tạo nên nguồn cảm xúc tâm linh xúc động nhất. Tương truyền, vị Đạo sĩ này là người đã chứng ngộ cảnh giới thiền định cao nhất thời bấy giờ. Tầng thiền mà ông chứng ngộ là: Phi tưởng phi phi tưởng. Kiếp sống tiếp theo của những vị đạt được cảnh giới ấy dường như dài vô tận (một ngày ở cõi phi tưởng phi phi tưởng bằng tám mươi bốn ngàn năm ở cõi người), nhưng một khi hết tuổi thọ, chúng sanh ở đó vẫn phải tiếp tục chịu luân hồi sanh tử trong tam giới. Khi Đạo sĩ A-tư-đà diện kiến thái tử Sĩ-đạt-ta, lúc đó chỉ là hài nhi, bằng con mắt thiền định cao nhất, ông đã thấy trước được tương lai của Thái tử. Vị đạo sĩ khả kính, mang vóc dáng thần tiên kia cung kính quỳ xuống đảnh lễ Thái tử và mỉm cười rất hoan hỷ rồi bất chợt khóc lớn làm cho cả triều đình ngơ ngác. Khi được hỏi, Đạo sĩ A-tư-đà trả lời rằng: Ông cười là hoan hỷ cho thế gian vì Thái tử sẽ thành một vị Phật Chánh Đẳng Giác trong tương lai và thế gian sẽ có con đường thoát khổ. Còn ông khóc vì cảm thương cho mình phận bạc, không sống được cho đến khi Thái tử thành Phật để tu tập trong Giáo pháp của Ngài.

    Ôi! Những giọt nước mắt thương tâm của một tài năng xuất chúng và dường như hư không kia còn vương nỗi buồn bất phùng thời của người. Ôi! Nhưng thế, có mấy ai giật mình trước những giọt sương long lanh còn đọng trên hoa sen, hay tất cả đang say sưa trong giấc mộng cợt đùa ngàn năm khái niệm?

    Giữa các bậc giáo chủ có mặt trên cuộc đời thì Đức Phật Thích Ca là người xuất thân từ dòng dõi và giai cấp cao quý nhất. Nhưng, Đức Phật đã từ bỏ tất cả để thực hành một cuộc tìm kiếm siêu việt độc nhất vô nhị. Chính tình thương vô lượng đối với tất cả chúng sanh đang chìm đắm trong biển khổ là động lực duy nhất để Đức Phật có đủ kiên nhẫn chịu đựng bao cam go thử thách, bao thống khổ khốc liệt nhất cho đến khi chứng đắc quả Vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Trong bài kinh “Dựng tóc gáy” ở Trung Bộ kinh khi đức Phật kể lại cho chư Tăng nghe về những đều mà Ngài đã chịu đựng trong suốt sáu năm thực hành khổ hạnh, nghe xong lời kể của Đức Phật cả hội chúng lúc ấy đều dựng tóc gáy.

    Trong tất cả kỳ quan trên thế giới, tình mẹ là kỳ quan vĩ đại nhất. Nhưng tình thương của Đức Phật đối với muôn loài còn lớn hơn tình thương của tất cả những người mẹ trên thế gian cộng lại. Đức Phật đã nổ lực hoàn thiện chình ngài trong vô số kiếp khi Ngài còn là Bồ tát, để khi hoàn thiện được bản thân, Ngài giúp chúng ta hoàn thiện chính bản thân mình. Đức Phật đã tận tuỵ giáo hoá chúng sanh suốt bốn mươi lăm năm cho đến khi Ngài Niết-bàn. Trước lúc từ giã cuộc đời, Ngài còn độ cho một tu sĩ ngoại đạo giác ngộ chân lý, trở thành một vị A-la-hán.

    Có thể, những thế kỷ gần đây xã hội loài người mới hô hào, mới thực hiện việc xoá bỏ chế độ nô lệ; điều ấy đã được Đức Phật tuyên bố và thực hiện ngay sau những ngày Ngài thành tựu Đạo quả. Có thể bây giờ loài người mới thấy đúng đắn khi công nhận vai trò của nữ giới với điều luật “nam nữ bình đẳng”; điều ấy đã được Đức Phật thực hiện cách đây hơn hai mươi lăm thế kỷ - qua việc cho thành lập Ni Tăng hội.

    Cuộc đời của Đức Phật đã thật sự vượt lên trên hai từ vĩ đại, đến đỗi quả đất vô tâm này phải rung chuyển tới bảy lần trước những sự kiện đời Ngài. Lần đầu quả đất rung chuyển khi Bồ-tát giáng sanh vào lòng Phật mẫu. Lần thứ hai quả đất rung chuyển khi Thái tử Sĩ-đạt-ta rời bỏ cung điện tìm đường cứu khổ. Lần thứ ba quả đất rung chuyển khi Bồ-tát cảm thắng Ma quân trên bồ đoàn, dưới bóng cây Bồ-đề quý báu. Lần thứ tư quả đất rung chuyển khi Bồ-tát chứng quả Vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Lần thứ năm quả đất rung chuyển khi Đức Phật chuyển Pháp luân lần đầu tiên tại vườn Nai cho nhóm ngài Kiều Trần Như.Lần thứ sáu quả đất rung chuyển khi Đức Phật trở lại cõi người sau ba tháng giảng dạy Vi Diệu Pháp cho Phật mẫu tại cung Trời Đẩu-xuất. Và quả đất rung chuyển lần thứ bảy khi Đức Phật hứa với Ma vương ba tháng sau Ngài sẽ Niết bàn.

    Dù ở đâu, dù thuộc chủng tộc tín ngưỡng hay phong tục tập quán nào, nếu chúng ta đã nhận chân được giá trị đích thực của con đường hướng đến tự do tối thượng do Đức Phật chứng ngộ và giảng dạy, con đường làm thăng hoa cuộc đời mình bằng chính những hành động của chính mình thì chúng ta có quyền tự hào mình là con trai hay con gái của Đức Phật. Những người nào đang thực hành Chánh pháp thì những người ấy được xem như là những người thuộc dòng dõi Đức Phật. Và chắc chắn rằng, trong vòng luẩn quẩn tử sanh luân hồi, những người con Phật một khi đã gieo duyên lành với Chánh pháp sẽ thành tựu được hạnh phúc tối thượng - chấm dứt khổ đau trong tam giới.

    Và như vậy thì đoá hoa sen ngàn xưa ấy vẫn đang còn nở, vẫn còn đang lấp lánh sương mai, vẫn còn toả hương thơm tinh khiết, dịu dàng giữa lòng nhân thế.

     


    ĐÔI DÒNG TỰ SỰ KHI DỊCH CHÙM THƠ CỦA TRÚC LÂM ĐẠI SĨ

    Chơn Hữu

    Thật tình mà nói thì tôi không phải là một dịch giả. Dịch thơ của Người, tôi chỉ dịch bằng cái tâm của một kẻ si thơ, thế thôi. Thú thật, kiến thức của tôi về lịch sử chỉ là một mớ kiến thức “chân quê” nên những điều tôi biết về Người thật giới hạn. Tôi chỉ biết Người là một danh nhân Việt Nam thế kỷ XIII, một vị vua tài đức song toàn, và là một vị thiền sư, Sơ tổ của phái thiền Trúc Lâm.

    Tôi vốn hờ hững với những điều “đã qua rồi”, vậy mà một lần đọc thơ của Người bất chợt thấy mình rúng động cả tâm can, bởi ngôn ngữ và hình tượng nghệ thuật được Người sử dụng trong thơ rất ảo diệu, rất thần tình.

    Những áng thơ kỳ vĩ kia như được dệt từ con tim, khối óc của một người lịch trải và có tâm vô lượng với cuộc đời. Những bài thơ như “Nguyệt”, “Thiên trường vãn vọng”, “Khuê oán”, hay “Lạng Sơn vãn cảnh”… làm cho tôi như thấy được cảnh vật đang hiện tiền. Tác giả dường như không dụng công làm thơ mà là chỉ nhìn và ghi lại những khoảnh khắc đang là…

    Ôi! Những dòng thơ của Người đã vẽ lên những bức tranh thơ diễm tuyệt và sinh động dường bao! Từ ngạc nhiên pha lẫn thích thú rồi dâng lên niềm kính phục, để không kìm được mình, tôi đã làm một cuộc hành trình phiêu bồng về thăm Yên Tử. Có vượt qua được những dốc núi cao thăm thẳm, đứng trên đỉnh Yên Tử ngất ngưỡng trong mây, phóng tầm mắt ra xa mà có lẽ nơi đây, thuở xưa, Người thường ngắm trăng, mây và thưởng thức hương rừng khí núi - mới hình dung ra được cái nhìn phiêu hốt của một người ở trên cao chất ngất; mới hiểu được sự sống vốn diệu kỳ nơi từng hơi thở, mới hiểu ra tại sao thơ của Người thường vắng bặt bản ngã…

    Tôi không phải là người thơ có cái nhìn thẩm thấu và xuyên suốt gì gì cả, nhưng khi đọc những bài thơ của Người, tôi đã thật sự rung cảm; và tự trong sâu thẳm hồn mình, nghe dâng lên một cái gì đó rất vu vơ như một nỗi buồn mộng mị giữa cuộc trần ảo hiện.

    Có lần, khi đọc bài thơ “Vô đề” của Người, tôi đã buồn suốt mấy tuần liền. Tương truyền, bài thơ này, Người viết sau khi về thăm một nàng công chúa là em ruột đang hấp hối. Người đã dặn công chúa đừng có sợ hãi, trên đường đi nếu có ai chận lại thì hãy bảo với họ: “Đợi tí, anh tôi là đại sĩ đang đến!”. Sau khi từ giã kinh đô trở về núi cũ, đêm đó, ở lại chùa Cổ Châu Hương, sáng mai trước khi đi, Người viết lên bức tường phía sau chùa bài thơ này. Đây có lẽ là bài thơ buồn nhất và mang tâm sự nhiều nhất của Người.

    Giống như một người đến chùa muốn tự tay mình thắp lên nén nhang dâng cúng đến đức Phật; cũng vậy, dịch chùm thơ của Người xin được ví như một nén nhang lòng xin dâng lên Người với trọn lòng ngưỡng mộ và kính phục.

     

    Âm

    NGUYỆT

    Bán song đăng ảnh mãn sàng thư

    Lộ trích thu đình dạ khí hư

    Thuỳ khởi châm thanh vô mịch xứ

    Mộc tê hoa thượng nguyệt lai sơ.

    KHUÊ OÁN

    Thuỳ khởi câu liêm khán truỵ hồng

    Hoàng ly bất ngữ oán đông phong

    Vô đoan lạc nhật tây lâu ngoại

    Hoa ảnh chi đầu tận hướng đông.

     

    LẠNG CHÂU VÃN CẢNH

    Cổ tự thê lương thu ái ngoại

    Ngư thuyền tiêu cảnh mộ chung sơ

    Thuỷ minh sơn tỉnh bạch âu quá

    Phong định vân nhàn hồng thụ sơ.

     

    VÔ ĐỀ

    Thế số nhất sách mạc

    Thời tình lưỡng hải ngân

    Cung Ma hồn quản thậm

    Phật quốc bất thắng xuân.

     

    THIÊN TRƯỜNG VÃN VỌNG

    Thôn hậu thôn tiền đạm tợ yên

    Bán vô bán hữu tịch dương biên

    Mục đồng địch lý ngưu quy tận

    Bạch lộ song song phi hạ điền.

     

    XUÂN CẢNH

    Dương liễu hoa thâm điểu ngữ trì

    Hoạ đường thiềm ảnh mộ vân phi

    Khách lai bất vấn nhân gian sự

    Cộng ỷ lan can khán thuý vi.

     

     

    Dịch thơ

    TRĂNG

    Bên hiên đèn chiếu sách đầy giường

    Khí đêm thanh khiết thu giăng sương

    Thoang thoảng tiếng chày đâu vọng lại

    Trên cành hoa quế ánh trăng vương.

     

    NỖI LÒNG

    Tỉnh giấc cuốn rèm ngắm hoa rơi

    Chim oanh thôi hót giận xuân rồi

    Lầu tây trời lặn không duyên cớ

    Hướng đông hoa lá bóng chơi vơi.

     

     

    CẢNH CHIỀU LẠNG CHÂU

    Khí thu ảm đạm cảnh chùa xưa

    Thuyền câu buồn vọng chiều chuông đưa

    Nước trong núi đứng chim in bóng

    Gió lặng mây nhàn lá vàng thưa.

     

    KHÔNG ĐỀ

    Phận người mờ mịt quá

    Tình đời nhắm mắt xong

    Cung ma vây bủa chặt

    Cõi Phật xuân mênh mông.

     

    CHIỀU NGẮM THIÊN TRƯỜNG

    Sau, trước làng quê bóng khói lồng

    Hoàng hôn nữa có, nữa dường không

    Đi trong tiếng sáo trâu về hết

    Cò trắng từng đôi liệng xuống đồng.

     

    CẢNH XUÂN

    Trong hàng hoa liễu chim thảnh thơi

    Mái nghiêng soi bóng chiều mây trôi

    Khách viếng, chuyện đời không hỏi đến

    Cùng tựa lan can ngắm xuân tươi.

    CH.


    MỘT VÀI CẢM NHẬN KHI ĐỌC BÀI THƠ

    “LẨN THẨN MỘT DÒNG SÔNG”

    CỦA TÁC GIẢ: MINH ĐỨC TRIỀU TÂM ẢNH

    Chơn Hữu

    Nỗi rung cảm dâng lên thật bất ngờ khi tình cờ đọc lại bài thơ “Lẩn thẩn một dòng sông”. Tôi như nhận được một món quà trân quý vì mấy khi thưởng thức được một bài thơ hay.

    Thật tình mà nói, tôi đã đọc bài thơ này nhiều lần trước đây, nhưng lần này tôi chợt nghe hồn mình dâng lên niềm cảm xúc kỳ lạ, sự ngạc nhiên thích thú như lần đầu tiên đi vào thế giới thi ca; thế giới của huyền thoại và hiện thực, của nhạc và thơ, của hoa và cỏ, của trăng sương bảng lảng, của những gì mơ mộng và sâu lắng:

    Sống với núi mà tình chưa hoá núi

    Nên đôi khi lẩn thẩn một dòng sông

    Lẩn thẩn cánh chim màu hoàng hôn ướt sẫm

    Cùng cánh bèo xao xuyến nỗi sầu đông

    Tiếng ai hát mà bờ xa sóng vỗ

    Đẫy con đò trôi hút cõi cô liêu

    Rừng không ngủ và ngàn sao không ngủ

    Tưởng lắng nghe chuông vọng bến Phong Kiều

    Sống như đá mà tình chưa hoá đá

    Lẩn thẩn trăng và lẩn thẩn cánh buồm khơi

    Đốm lửa chài nhấp nhô miền hư ảo

    Tưởng cùng ta nhấp nháy trái tim người

    Nên nỗi buồn cũng chàm rêu thành quách

    Dòng sông đêm con nước chảy mơ hồ

    Dăm tri kỷ tơ đàn xưa buốt lạnh

    Thoảng mộng trường dăm bảy hạt sương khô.

    (MĐTTA)

    Đọc lướt qua bài thơ đã nhận ra ngay sự tài hoa của tác giả. Nhà thơ đã phác hoạ rất thành công những hình tượng nghệ thuật thật sinh động. Bài thơ được kiến trúc bằng ngôn ngữ và trái tim mẫn cảm của người nghệ sĩ; nhưng để hồn lắng lại, người đọc sẽ nhận ra phía dưới lớp ngôn từ lãng mạn, giàu chất trữ tình ấy còn ẩn chứa một vẻ đẹp trầm lắng. Một vẻ đẹp hàm ẩn của thế giới tâm linh, của đạo thiền vốn uyên áo không còn giới hạn bởi ngôn ngữ.

    Mở đầu bài thơ: “Sống với núi mà tình chưa hoá núi”. Lời thơ đẹp và thi vị quá!

    Không gian nghệ thuật là một ngọn núi, hay cả dãy núi mà ở đâu cũng có thể có. Núi là nơi cách xa chốn phồn hoa đô hội, là nơi nương nhờ của muôn loài hoang dã, là tổ ấm của những cánh chim tự do và cũng là nơi náu mình của những hiền sĩ Đông phương. Vậy là quá rõ, chủ thể của bài thơ chắc chắn là một ẩn sĩ “sống với núi”. Nhưng “mà tình chưa hoá núi”. Cảnh và tình được giới thiệu, bày tỏ trong một không gian nghệ thuật rất riêng mà rất quen.

    Núi vốn vô tư, an ổn, mặc gió mưa, nóng lạnh, mặc bốn mùa thay đổi. Và trong không gian ấy nhà ẩn sĩ đã bộc bạch nỗi long (tình) của mình không phải lạnh lùng như núi.

    Không lạnh lùng, vô cảm vì tình là cái muôn thuở dạt dào… mà cái tình của ẩn sĩ là cái tình bao la. Nó không thể bị giới hạn bởi một nơi nào, nó luôn vô lượng với trần gian khổ đau và kho cằn này. Và rồi, ví tình không bị giới hạn (chưa hoá núi) ấy mà ẩn sĩ thấy mình “Đôi khi lẩn thẩn một dòng sông”

    Cái đẹp, cái hay của bài thơ được dệt nên qua hai câu đầu tạo thành một khung cảnh trữ tình, thơ mộng do tác giả dung từ kép “lẩn thẩn”  thật đáng yêu; với chút lẩn thẩn ấy mà bài thơ được đưa lên đỉnh cao nhờ yếu tố ngôn ngữ nghệ thuật. Dường như tác giả không dụng công làm thơ mà nhìn vào cái tâm của mình. Chỉ nhìn và ghi nhận để thấy mình còn vương vương bao nỗi u hoài trên dòng sòng tâm tư hay dòng đời mông lung khói sương viễn mộng. Phải có một sự trầm tỉnh, một cái nhìn xuyên suốt tâm tư mới thấy được dòng ý niệm kia là điều “lẩn thẩn!”

    “Lẩn thẩn cánh chim màu hoàng hôn ướt sẫm”. Đến đây, người đọc như bất ngờ (một nỗi bất ngờ lý thú) khi bắt gặp một màu sắc thật lạ, thật độc đáo qua cảm quan qua sự sáng tạo của tác giả.

    "Màu hoàng hôn ướt sẫm”. Trong phong cách sáng tạo nghệ thuật rất riêng, tạo nên một hiệu quả thẩm mĩ trừa tượng để người đọc thấy được tâm hồn tác giả rất phóng khoáng, nhạy cảm. Tác giả đã rung cảm trước vẻ đẹp của nỗi buồn và đã thể hiện sự cảm nhận đó thành ngôn ngữ mang sắc màu nghệ thuật. Nhờ sự thể hiện tài tình đó mà làm cho cái tình và cái đẹp hoà quyện vào nhau, gợi cho người đọc liên tưởng đến màu sắc hoàng hôn trong thơ ca của Thôi Hiệu ở bài Hoàng Hạc Lâu:

    “Nhật mộ hương quan hà xứ thị

    Yên ba giang thượng sử nhân sầu”

    (Quê hương khuất bóng hoàng hôn

    Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai)

    (Tản Đà dịch)

    Thời gian nghệ thuật ở đây là hoàng hôn. Mỗi ngày có một hoàng hôn, không hoàng hôn nào giống hoàng hôn nào, nhưng hiếm ai diễn đạt được “màu hoàng hôn ướt sẫm” tài hoa và lạ lẫm như tác giả.

    Nhưng, dường như, ngôn ngữ mang sắc màu nghệ thuật “Màu hoàng hôn ướt sẫm” không chỉ dừng lại ở vẻ đẹp, vì còn điều gì đó vượt lên trên hay sâu lắng hơn cái đẹp của hoàng hôn. Phải chăng là cái thấy thân phận người “ướt sũng” do sự giới hạn trong dòng thời gian? Và quanh ta còn bao tâm tư trắc trở - khát khao một điều gì đó vô hình?!

    “Cùng cánh bèo xao xuyến nỗi sầu đông”. Rõ ràng, kìa sự đau khổ luôn luôn hiện hữu nơi cuộc đời! Nhìn lại để thấy, thấy để biết, để cảm nhận sự thật; sự thật ấy là nỗi buồn – nỗi buồn của ta và tha nhân. Tác giả dùng phép so sánh trong thơ thật nhẹ nhàng nhưng rất “sốc”. Nỗi buồn của cánh chim có giống chăng niềm xao xuyến của cánh bèo?

    Vì đã thấy được nỗi đau của thân phận, của cuộc đời và rồi không chấp nhận hạn cuộc, không dừng lại ở đó. Người nghệ sĩ với tư duy trăn trở, nỗi niềm khao khát… làm một cuộc phiêu bồng tìm kiếm; và rồi phải chăng(?) đã tìm được, đã nghe được một bến đỗ bình an đâu đó: “Tiếng ai hát mà bờ xa sóng vỗ”. Có thể hình dung được một bến bờ hạnh phúc ấy ở rất xa – xa nhưng rất gần, vì chính tai mình đã nghe được tiếng sóng vỗ của bờ xa ấy, tuy chưa đến được. Nhưng người nghệ sĩ hoàn toàn tin tưởng rằng, bờ kia và lối đến là có thực vì đã nghe tiếng hát của người bên kia bờ! Người ấy là ai? Phải chăng tiếng hát ấy là lời kinh huyền nhiệm?

    Ngôn ngữ nghệ thuật của thi ca luôn hấp dẫn, luôn khêu gợi. Nó luôn là điều gì đó chưa nói hết, nó mời gọi người đọc khám phá và tự mình cảm nhận.

    Đến đây, dường như ta hiểu được rằng: cuộc phiêu bồng tìm kiếm của người nghệ sĩ đã được định hướng. Để rồi từ sự định hướng ấy, người nghệ sĩ ấy tiếp tục dấn bước, một quyết định dấn bước vào hố thẳm: “Đẩy con đò trôi hút cõi cô liêu”.

    Để diễn đạt sự cô đơn của người nghệ sĩ trong bước dấn mình trên đường tìm về bến bờ bình nguyên, tác giả dùng từ ghép “trôi hút” một cách rất thần tình làm cho người đọc cảm nhận được sự cô đơn tuyệt đối trong “cõi cô liêu”!

    Cõi cô liêu ấy cũng chính là cõi đời, cõi trần hồng khói sương giả tạm. Trên bước đường ấy, hành giả phải thực hiện cuộc hành trình một cách đơn độc, không người đồng hành. Mỗi người phải tự đến để mà thấy cái bến bờ ấy. Không một ai có thể ban tặng cho ta và ngược lại.

    Con đường đưa đến bến bờ tự do mỗi người phải đi đến, nhưng để đến được chốn ấy, hành giả luôn phải đặt trách nhiệm vào nơi ý chí của chính mình. Trách nhiệm và ý chí ấy là sự nỗ lực liên tục, ta hãy nghe “rừng không ngủ và ngàn sao không ngủ”. Có thao thức đêm trường mới hiểu được rừng không ngủ và ngàn sao không ngủ như thế nào trong định luật của chúng. Tuy nhiên, tâm tư của con người, nhất là nhà thơ là một dòng sông bất tận; nhà thơ có quyền năng hơn loài người phàm tục – đó là quyền rung động và buồn. Trong khi dõi mắt canh chừng trên đường đi ở mình, hành giả thấy và thú nhận “tưởng lắng nghe chuông vọng bến Phong Kiều”!

    Những người yêu thơ ai cũng từng ngớ ngẩn mà thán phục gã khách thuyền Trương Kế, nửa đêm mở cõi lòng mà đón nhận tiếng chuông chùa Hàn San. Dường như có một sợi dây mơ hồ kết nối giữa người khách thuyền hôm nay và người khách thuyền năm xưa. Câu thơ hàm chứa một vẻ đẹp có từ ngàn xưa nhưng không bao giờ cũ; một vẻ đẹp mang mang, trời sương, trăng mờ, quạ kêu… tạo nên một nét duyên ngầm quyến rũ làm say đắm người đọc. Người thơ của chúng ta như đồng cảm với cổ nhân, với nỗi sầu miên man sông nước; để ở khổ thơ thứ ba trong bài, một lần nữa, lại đưa chúng ta trở về với bến nước Phong Kiều xưa, qua hình tượng “đốm lửa chài”; và rồi, lại nhìn nhận rằng những hoài vọng xa xăm chỉ là hư ảo. Nhưng ta hãy thưởng thức chậm rãi, bởi câu đầu trong khổ thơ thứ ba tác giả đã phát hoạ rất ấn tượng: “Sống như đá mà lòng chưa hoá đá”. Ở câu đầu là “sống với”; tới đây, tác giả lại xác nhận “sống như”. Núi và đá là hai thuật ngữ mà nhà thiền thường sử dụng.

    Khi ẩn dụ về thiền định, về sự vững chắc không lay chuyển, sự chú tâm, người ta hay dùng thuật ngữ “núi”; còn khi dùng thuật ngữ “đá” thì lúc ấy yếu tính khẳng định hơn (Thiền định được xem như lấy đá đè cỏ); khi tảng đá đè lên thì cỏ không thể nào mọc được, nhưng bỏ đá ra thì cỏ lại mọc như xưa. Tác giả đã thấy rõ điều ấy nên tâm (lòng) chưa hoá đá, chưa muốn hoá đá. Chưa hoá đá mà vẫn sống như đá… phải chăng bậc hành giả đang dùng đôi mắt bình lặng để tiếp tục nhìn rõ những gợn sóng lăn tăn bên trong mình.

    “Lẩn thẩn trăng và lẩn thẩn cánh buồm khơi”.

    Những hình tượng hết sức mơ mộng, đẹp đẽ, vốn được dùng để ca ngợi cái đẹp trong thi ca: trăng, cánh-buồm-khơi của những thi nhân xưa và nay. Vậy mà những hình ảnh ấy lại được tác giả gọi là lẩn thẩn, dường như chúng chỉ biểu hiện ý nghĩa nhỏ bé, đơn sơ. Gợi cho người đọc cảm thụ rằng: tuy đẹp đẽ và vô vàn thơ mộng thế nhưng chưa phải là cái cốt tuỷ!

    Vậy điều cốt tuỷ ấy là gì?... Tác giả không nói ra, hay không thể nói được, có phải chăng khi gọi danh thì không còn là cái đang là…? Cái mà chỉ có thể thấy được của người trong cuộc. Tuy nhiên, tác giả cũng nói được ra những điều mà khi nhìn vào bên trong chính người thơ đã thấy, ấy là những miền không thực, những “đốm lửa chài nhấp nhô miền hư ảo”; những khổ đau, những nỗi niềm thân phận… Vì bên trong người thơ ấy vốn tiềm ẩn một trái tim nhấp nháy rất người.

    Với cái thấy được như thế, thì lúc ấy không còn mang nặng những điều ám ảnh không thực đó nữa. Bằng cái nhìn mới mẻ, giờ đây: mọi vật vẫn vậy nhưng không phải vậy! Mọi cái đều trở nên mới mẻ, vì mọi cái đều mới, “nên nỗi buồn (ngày xưa) cũng chàm rêu thành quách” và tư tưởng và dòng sông cũ đều không thực, đều hư ảo: “Dòng sông đêm con nước chảy mơ hồ”.

    Đến đây người thơ đã an nhiên đón nhận sự cô đơn. Chính cô đơn là nguồn sáng tạo, là đỉnh tỉnh lắng mà lúc này ta đã đặt chân lên, phải bỏ lại tất cả: “Dăm tri kỷ tơ đàn xưa buốt lạnh”. Lúc này, không ai có thể hiểu tác giả nữa, mà cần gì ai hiểu. Có một nơi không bao giờ hiểu nỗi, không bao giờ diễn đạt được bằng ngôn ngữ. Đó là vùng vô ngôn của thế giới tâm linh, của sự tiềm ẩn sâu thẳm của thực tại đang là…

    Kết thúc bài thơ bằng một tia nhìn thẩm thấu, xuyên suốt, lịch trải – nhưng rất thơ: “Thoảng dặm trường dăm bảy hạt sương khô”. Phải chăng tác giả rất an nhiên để thấy mình lẩn thẩn với núi, với đá tri âm…

    Lần đầu tiên một bài thơ “thi dĩ tải đạo” làm cho tôi rung cảm ngây ngất, với những ngôn từ và những hình tượng nghệ thuật đẹp, tác giả đã đưa tôi bồng bềnh phiêu hốt trong cõi thi ca. Thật là diễm tuyệt. Ôi! Ngôn ngữ thi ca…!

     

     

     

     

     

     

     


    ĐAU KHỔ VÀ NHẬN THỨC

    Chơn Hữu

    Đau khổ, theo định nghĩa thông thường, chính là điều gì có tác động xấu đối với tiến trình tâm-sinh-vật lý của con người. Không ai lấy làm lạ khi nghe đến tiếng “khổ” vì mọi người từng nếm qua mùi vị của nó! Khổ đau, mặc dù con người không hề muốn, vẫn cứ tồn tại như là điều bất di bất dịch từ ngàn xưa cho đến ngàn sau.

    Thật khó liệt kê ra hết những nỗi thống khổ trên thế gian, vì khổ đau vốn đa hình đa dạng. Chúng sanh đã biết đến khổ ngay từ khi lọt lòng mẹ, nên mới khóc tiếng khóc chào đời; rồi từ đó theo thời gian, khổ đau cứ chồng chất thêm lên cho đến khi xuống mồ.

    Lý tưởng cao nhất của nhân loại xưa nay là làm thế nào để giải quyết vấn đề khổ đau. Tất cả thế giới đã và đang vận dụng toàn bộ trí thông minh của con người để củng cố tối đa những hạnh phúc và hạn chế tối đa những khổ đau bằng cách nghĩ ra vô số phát minh càng nhiều càng tốt. Con người chạy trốn khổ đau bằng mọi cách mà họ có được về vật chất. Nhưng điều ấy chỉ giúp giải quyết vấn đề hời hợt ở trên bề mặt, nên càng trốn chạy như vậy thì cáng lún sâu vào vòng khổ luỵ; cũng giống như người cầm ngọn đuốc chạy ngược gió, bị lửa táp vào mặt nóng bỏng, đau đớn than vãn nhưng lại không chịu bỏ ngọn đuốc bởi còn tiếc nuối ngọn lửa tai hại ấy.

    Ánh lửa phương tiện của: tài, sắc, lợi, danh hay thất tình lục dục… đã cuốn con người trong vòng quay cuồng của khổ đau liên miên bất tận. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi chỉ nói về nỗi khổ cả cuộc đời và quan niệm về khổ đau trong đạo Phật.

    Con người thường có thói quen muốn nắm giữ trong tay mình càng nhiều thứ càng tốt, khi đã có cái sở hữu rồi thì con người lại bị những cái có được sở hữu trở lại. Khi thế giới con người đạt đến những tiến bộ vật chất tột bậc thì khổ đau lại bộc phát khắp nơi theo tỷ lệ nghịch; những căn bệnh lạ lùng cướp đi hàng loạt sinh mạng; những vụ khủng bố tàn bạo gieo rắc đau thương xảy ra từng ngày trên trái đất; những trận thiên tai, lũ lụt, động đât…; và đời sống tinh thần lâm vào ngõ cụt đã khiến bao tệ nạn xã hội như cứ tăng dần lên mãi.

    Khổ đau, dù về sinh lý hay tâm lý, luôn là đề tài hết sức quan trọng của con người. Có thể nói rằng, mọi khổ đau đều là kinh ngiệm về những mức độ và hình thức khác nhau của tất cả điều bất như ý. Thân xác sinh lý hay tinh thần của mỗi người luôn tương quan mật thiết và ảnh hưởng qua lại với nhau theo quy luật của nó. Khổ đau về mặt sinh lý mà mỗi người phải kinh qua như những nhát cắt của phận người, để con người tìm mọi cách chống lại trong sự tuyệt vọng. Thân xác khổ đau làm cho tinh thần suy sụp, và đau khổ tinh thần tác động lên thân xác hay ngược lại.

    Cô đơn cũng chính là một nỗi thồng khổ của con người. Người ta thường thấy mình cô đơn, thực sự cô đơn ngay trong chính hình hài của mình. Vì thế, mỗi người thường tìm cách cố gắng để đào thoát khỏi cô đơn. Nhưng phải nhìn nhận rằng, mục đích ấy, con người xem ra không thể đạt được. Người ta có tụ tập thành nhóm hoặc sinh hoạt tập thể, nhưng chỉ chừng đó thôi. Khi cảm nghiệm thực sự về đời sống, con người vẫn thấy mình rất cô đơn - một nỗi cô đơn không cùng và toàn diện. Việc tìm kiếm một người hay một tổ chức nào đó để giúp mình thoát khỏi cô đơn quả là điều không thể.

    Thật vậy, nếu chúng ta càng muốn xa lánh và chạy trốn khổ đau thì khổ đau như càng tăng thêm lên, bởi ngay chính thái độ xa lánh và chạy trốn ấy cũng đã là nỗi khổ. Lấy một nỗi khổ khác đem chồng lên cái khổ đang có thành ra “khổ khổ”.

    Cùng hiện hữu ở cuộc đời song song với “khổ khổ”“hoại khổ”. Hạnh phúc và lòng ham muốn hạnh phúc được xem như đồng nghĩa với “hoại khổ” này. Thường thường khi con người có được những trạng thái hạnh phúc mong manh, họ muốn ôm ấp, giữ gìn và duy trì trạng thái hạnh phúc đó mãi. Do lòng tham đắm nên đa phần đều sợ hãi hạnh phúc đang có sẽ tuột khỏi tầm tay, từ đó sống trong cảnh bất an, dao động. Và rồi khi hạnh phúc ra đi theo định luật vô thường, để lại cho họ nỗi nuối tiếc muộn phiền triền miên không dứt. Hạnh phúc đôi khi tồn tại quá lâu cũng biến thành chán chường đau khổ. Như một người ăn một món ăn thấy rất ngon, nhưng thử ngồi ăn mãi cái món ấy vài giờ đồng hồ thì món ngon ấy sẽ trở thành thứ đáng ghét.

    Cũng có thể đưa ra ở đây thêm một nỗi khổ khác, dưới hình thái khác, mà phần đông chúng ta thường trải qua, ấy là “hành khổ”. Có nhiều lúc ta thấy mình rơi vào một trạng thái trống rỗng: không vui, không buồn, vô vị…! Phần đông chúng ta không chịu đựng nỗi trạng thái trống rỗng đó. Thế rồi, ta đi tìm sự khoả lấp nỗi trống trải kia bằng mọi cách mà ta nghĩ ra được. Chính sự lăng xăng tìm kiếm để khoả lấp ấy tạo nên “hành khổ” này.

    Theo giáo Pháp của Đức Phật thì khổ đau là một chân lý (Khổ đế)! Con người, ai cũng phải chịu khổ đau do định luật nghiệp báo. Từ vô minh, chúng ta đã gieo biết bao nhiêu hành động (nhân) thiện và bất thiện nên khi sinh ra đời chúng ta phải nhận lấy những kết quả của những hành động quá khứ ấy. Ngày nào mà ta vẫn còn luân hồi sinh tử thì ngày ấy ta còn phải chịu đựng đau khổ. Khổ đế được đề cập trong đạo Phật có thể định nghĩa khái quát là:

    - Những biến đổi về sinh vật lý của cơ thể đưa đến đau nhức, suy nhược, bệnh hoạn, già yếu, tử vong…!

    - Những biến đổi các trạng thái tâm lý như thương ghét, uất ức, sầu muộn, chán chường, hận thù, tuyệt vọng…!

    - Với nghĩa trừu tượng triết học thì cái gì khó chịu đựng, khó kham nhẫn, hư vô, ảo ảnh, khó nắm bắt, không thực tế, bất toại nguyện… đều là khổ đế! Trong kinh “Chuyển Pháp Luân”, chúng ta có thể rút ra được tám loại khổ ở “Khổ đế” hay chi tiết hơn là mười hai, mười ba nỗi khổ ở “Tập đế” như: sanh, lão, bệnh, tử, ái biệt ly, oán tăng hội, cầu bất đắc, thủ ngũ uẩn, sầu, bi, khổ, ưu, não!

    Những lời dạy của Đức Phật về khổ không hề mang ý nghĩa đem lại cho chúng ta một thứ cảm giác sống “bi quan yếm thế” nào cả, mà là nhắm đến khả năng cho chúng ta “hiểu biết như thực” về bản chất của cuộc đời.

    Giáo pháp của Đức Phật mang đến cho ta một tinh thần chủ đạo là dạy cho ta khám phá ý nghĩa đích thực của các sự thật đang hiện hữu. Nhờ hiểu biết và thấu suốt cuộc đời theo đúng tinh thần của Giáo Pháp, giúp ta vứt bỏ những lớp ảo tưởng thành kiến, chặn đứng căn cội khổ đau của kiếp người và thấy rõ bản chất vạn hữu để có được một đời sống thật sự tự do.

    Người con Phật khi đã có tinh thần hiểu biết đúng đắn của Phật Pháp, thay vì cuống cuồng trong những nỗi khổ đau của kiếp người thì họ lại khéo biết đối diện với thực tại để nhận ra bản chất đau khổ của cuộc đời. Thái độ ấy đã hàm dưỡng nguồn trí tuệ mà không có một tôn giáo nào khác có thể có được!

    Đức Phật dạy cho đệ tử của Ngài hạnh lắng nghe trung thực những khổ đau trong đời sống chứ không phải tạo thêm cho cuộc đời những nỗi thống khổ! Khi dạy về “Khổ đế”, Đức Phật không hề có ý định khuyên bảo chúng ta tầm cầu và giữ lại một cảm nghiệm nào, mà thay vào đó là thái độ nhìn ngắm trực tiếp nỗi khổ, vì đau khổ là một sự thực không thể chối bỏ.

    Giáo Pháp của Đức Phật còn cho ta biết thêm rằng bất cứ đau khổ nào cũng có nguyện nhân và khả năng chấm dứt. Đức Phật dạy rằng, tất cả khổ đau cũng đều nằm trong định luật vô thường, chúng xuất hiện rồi lại ra đi. Nếu chúng ta luôn biết trở về, ghi nhận mọi diễn tiến nơi hiện tiền đang là, thì sẽ dễ dàng cảm nhận được lời dạy ấy. Chẳng hạn như: với tư thế ngồi yên một hồi lâu, chúng ta sẽ cảm thấy khó chịu, rồi ta xét lấy nguyên nhân của cảm giác khó chịu đó. Khi hiểu được mình đang bị đau mỏi do ngồi lâu ta liền thay đổi tư thế như đi, đứng…; nhờ vậy mà cảm thấy dễ chịu hơn. Thế rồi, ngay trong chính tư thế vừa được thay đổi này, vài mươi phút sau ta lại bất ổn như cũ. Nếu ghi nhận như thế, chúng ta đã có thể thấy được rằng mọi cảm giác của mình trong tiến trình vừa qua chỉ là những mảnh vụn chắp nối; rồi chúng ta ghi nhận thêm điều khác rất quan trọng nữa: ta thấy mình “không muốn” bất an, mà chỉ “muốn” thoải mái. Như vậy, từng nỗi khổ kia thật ra chỉ là những cảm giác thuần tuý! Vấn đề nằm ở chỗ là chúng ta có thái độ chối bỏ hoặc tham muốn nó mà thôi. Về hạnh phúc (lạc thọ) cũng như vậy! Chính Thánh đế thứ hai (Tập đế) dạy cho ta biết rằng:

    - Cội nguồn của tất cả đau khổ chính là sự không sáng suốt và lòng ham muốn.

    Khổ đau là một sự thật của cuộc đời. Khi có hình hài, thì ai cũng phải chịu đau khổ dù là bậc thánh nhân hay phàm phu. Nhưng, bậc thánh nhân và người có hiểu biết giáo pháp nhận thức nó chỉ là khổ thuần tuý. Chính nhờ được trang bị bằng nguồn kiến thức của giáo pháp như thế, nên sự thấy biết của những người tu Phật không còn “tìm vui trốn khổ” một cách nông cạn nữa. Họ sử dụng “khổ” để tìm đến phương trời tự do cho nội tâm, vượt lên trên tất cả giới hạn nhận thức theo phàm hình.

    Theo tinh thần đạo Phật, chúng ta phải vượt qua cả hai giới hạn: hạnh phúc và đau khổ! Quan niệm của đạo Phật là thấu suốt tất cả cảm nghiệm chứ không phải là trốn chạy hay đầu tư vào bất cứ cảm nghiệm nào. Đây là hai vấn đề hoàn toàn khác nhau, và sự thật về đời sống luôn là một điều hết sức thú vị và kỳ diệu. Nó đòi hỏi chúng ta phải hiểu rằng, đời sống là cái gì đó cần được liễu tri trọn vẹn, chứ không phải chỉ đơn giản là một định phận buồn tẻ, để chúng ta âm thầm chấp chận vô điều kiện cho đến khi nhắm mắt xuôi tay. Bản chất của khổ đau là cái cần được nhìn thấy và hiểu biết.

    - Một khi sự hiểu biết đúng đắn theo tinh thần giáo pháp đã phát sinh, chúng ta sẽ chấm dứt được ảo tưởng. Khi không còn ảo tưởng, lúc ấy ta sẽ không còn sợ hãi bị những ảo giác của khổ đau chi phối nữa.

     

     


    KHÔNG NGỘ NHẬN

    Chơn Hữu

     

    Sự sống vốn là điều kỳ diệu và bàng bạc khắp nơi trên quả địa cầu. Giữa muôn loài chúng sinh hữu tình thì con người đóng một vai trò quan trọng và vượt hơn tất cả. Tuy nhiên ngoài những đức tính như cao thượng, tư tưởng linh hoạt, con người cũng còn mang trong mình rất nhiều thú tính khác như bản năng dục vọng, lầm lỡ, tội ác. Vì vậy, con người chỉ trở nên cao quý khi con người biết vượt lên, chế ngự thú tính để làm thăng hoa những phẩm chất đạo đức nơi mỗi người.

    Mỗi cá nhân nói riêng và loài người nói chung đều có khả năng để thành tựu những giá trị đặc biệt cao thượng ấy. Bởi cảnh giới loài người không quá nhiều khổ đau như ở địa ngục, không phải hoàn toàn sung sướng như những cõi trời, cũng không hoàn toàn ngu si, bản năng như loài thú. Chính tư tưởng, ý chí và hành động của con người quyết định tất cả. Tốt hay xấu, đạo đức hay tội lỗi, thăng hoa hay sa đoạ, nguyên nhân chính vẫn là do con người.

    Ngày nay, chúng ta có thể tự hào về nền văn minh đang phát triển rực rỡ. Con người, với tham vọng to lớn, dường như đã chinh phục được rất nhiều lãnh vực. Bằng sự nhận thức tổng hợp rộng lớn và những đóng góp tích cực của những trí thức khắp năm châu, con người đang hướng đến một sự phát triển khoa học văn minh vĩ đại hơn nữa.

    Thành tựu về khoa học kỹ thuật vốn là kết quả lý trí thực nghiệm của con người. Thế giới vẫn hy vọng vào sự phát triển hơn nữa về khoa học kỹ thuật để tạo dựng một cuộc sống no lành và mang lại hạnh phúc cho xã hội con người. Nhưng dường như chúng ta cũng đang đối đầu với thật nhiều hiểm hoạ do những sai lầm mà con người mang lại.

    Khi chúng ta đang chứng kiến những thành tựu vật chất của nhân loại thì cũng là lúc chúng ta chứng kiến những khổ đau, bế tắc của tinh thần con người. Một khi tinh thần con người bị rơi vào thế bế tắc thì những hiểm hoạ bất an sẽ phủ xuống con người khắp nơi trên trái đất.

    Đứng trước thực tại cuối cùng của mỗi cá thể, con người ý thức về sự trống rỗng, hư vô của chính mình và bất chợt cảm thấy kinh khiếp. Sau những thoả mãn khao khát về vật chất, sau những tháng ngày đam mê lăn lóc trong khoái lạc của trần gian, con người đã khám phá ra số phận bi đát hãi hùng của mình - trước hố thẳm hư vô là sự chết, mỗi cá thể đều trở thành vô nghĩa và thế là, con người lên đường tìm kiếm một điều gì đó cho tinh thần, dĩ nhiên là một lối đi ngược lại với vật chất. Vì vậy, sự lựa chọn khôn ngoan cho những tinh thần đã nhận thức ra giới hạn của vật chất và hướng đến tôn giáo để mong tìm được một sự vượt thoát. Vấn đề này không phải là những suy tư bắt nguồn từ những quằn quại đau thương của hôm nay, mà những ý tưởng ấy đã có mặt theo sự tiến hoá của xã hội loài người từ rất lâu; và những tôn giáo đã hình thành để đáp ứng cho những khao khát ấy.

    Nếu tôn giáo là cứu cánh và được hiểu theo nghĩa: mang đến cho cuộc đời sự thăng hoa cao đẹp thì tôn giáo là điều thiết yếu và không thể thiếu của xã hội loài người. Nếu một tôn giáo nào đó có khả năng cung ứng cho nhân loại về nhu cầu thăng hoa tinh thần và mang lại những giá trị hướng thượng thì tôn giáo đó đương nhiên là một thực tại cứu cánh. Nhưng nếu một tôn giáo nào đó không còn đủ khả năng hướng dẫn nhận thức con người, bị con người vượt bỏ thì tôn giáo đó không còn mang nổi sứ mạng cứu cánh nữa. Tuy nhiên, hiện nay, có những tôn giáo như thế vẫn được nhìn nhận là một thế lực giáo quyền của một giai đoạn lịch sử nào đó.

    Sự tiến triển thần tốc của khoa học đã đem lại rất nhiều lợi lạc thiết thực cho con người. Nhưng những hiểm hoạ khủng khiếp từ những phương tiện tân tiến, từ những vũ khí huỷ diệt hàng loạt cũng đang đe doạ nhân loại từng phút giây một. Hiện nay, con người ở nhiều nơi trên thế giới phải đối mặt với rất nhiều vấn đề nan giải. Những vụ khủng bố tàn bạo, những cuộc chiến tranh tôn giáo cực đoan đang gieo rắc đau thương khắp nơi để chứng tỏ sức mạnh độc thần hay chân lý của họ là một vấn đề hết sức tế nhị và nhạy cảm. Thảm hoạ khủng bố nhân danh tôn giáo bộc phát khắp nơi khiến cho bao quốc gia phải điêu đứng, hàng triệu triệu con người hiền lành nhiều nơi đang phải sống sợ sệt trong từng phút giây. Nhân loại đang rung lên những hồi chuông cảnh tỉnh; và ở nhiều quốc gia đã sớm có những biện pháp thích hợp để phòng chống cũng như loại trừ những hành động vô nhân tính như thế.

    Chừng nào con người còn khao khát tìm hiểu bản chất sự thật của cuộc đời thì khi ấy tôn giáo vẫn còn hiện hữu vì tôn giáo vốn đáp ứng được sự tìm kiếm khao khát đó, ít nhất là ở khía cạnh niềm tin. Càng bế tắc mờ mịt trước hư vô hố thẳm con người càng dễ tin đến độ cuồng tín. Họ sẵn sàng tin tưởng và hy vọng vào sự cứu chuộc của một vị thần linh toàn năng tối thượng khuất mặt khuất mày nào đó; họ sẵn sang trả giá cho sự cứu chuộc ấy bằng chính sinh mạng của mình và của người khác. Ôi, ấy là một sự thật bi đát của hiện trạng!

    Lịch sử thế giới đã ghi nhận sự mắc kẹt của con người ở những trò đánh lận con đen nơi những tôn giáo mà bản chất là những tập đoàn thế lực giáo quyền đã có mặt từ xa xưa. Những cuộc thánh chiến nhân danh tôn giáo là những bài học đẫm máu cho nhân loại. Dĩ nhiên bao giờ và ở đâu cũng có những con người nhận thức đúng đắn và thoát ra khỏi sự dính mắc đó để tìm bước chuyển tiếp khác mới hơn và đúng đắn hơn cho chính họ. Cơ duyên tốt đẹp và thuận lợi hơn cho những thế hệ mới đương đại, những thế hệ được sinh ra và lớn lên trong một môi trường giáo dục hiện đại. Họ bớt được gánh nặng tín ngưỡng truyền thống, trong tinh thần tự do tôn giáo; và với kiến thức đã được học hỏi họ sẽ đủ bản lãnh và sáng suốt chọn được cho mình một con đường tâm linh đúng đắn để thăng hoa cuộc đời.

    Trong thời đại thông tin toàn cầu này, con người có nhiều khả năng để làm sáng tỏ nhiều vấn đề, kể cả tôn giáo. Người ta mỗi ngày mỗi thêm hoài nghi trước những quyền năng tối thượng của Thượng Đế. Điều hoài nghi ấy hoàn toàn phù hợp vì con người mỗi ngày chứng kiến biết bao nỗi khổ đau, bao bất công và bất thiện… Với những niềm tin cuồng nhiệt, với những lời nguyện cầu tha thiết trước tạo hoá quyền năng vô biên, mà sao những đau thương kia dường như bất tận?!

    Đạo Phật với sắc thái hiếu sinh, hiếu hoà và trí tuệ, với sự cởi mở bao dung nên truyền vào quốc độ nào cũng được quần chúng ở quốc độ đó nhiệt liệt hoan nghênh, tin tưởng phụng hành. Ngoài những nước Á Đông đã thấm nhuần tư tưởng Phật giáo, hiện nay đạo Phật đang được tiếp nhận rất nhanh ở những quốc gia tiến triển nhất trên thế giới. Có rất nhiều tư tưởng gia nổi tiếng đương đại đã tỏ rõ sự tán đồng về bản chất “trí tuệ từ bi” của đạo Phật. Họ nhận ra rằng Phật giáo được xây dựng trên nền tảng nhân bản nên họ đam mê nghiên cứu, học hỏi giáo lý vô thượng của đức Phật một cách chân thành. Nhiều hiệp hội Phật giáo Anh, Mỹ, Pháp, Nga, Đức liên tục được thành lập. Với sự học hỏi nghiên cứu rất khoa học nên những tổ chức Phật giáo ấy đã đóng góp được cho công cuộc phổ cập giáo lý cao thượng của Đức Phật cho đất nước của họ rất hiệu quả. Đã có những công trình Phật học đồ sộ mang tính hàn lâm ra đời như: Hệ thống và phổ biến kinh điển Pàli, ngôn ngữ mà đức Phật dùng để thuyết Pháp. Ngày nay, Tam Tạng Thánh Điển Pàli đã được dịch ra rất nhiều thứ tiếng và có mặt đầy đủ ở những thư viện lớn của nhân loại. Ông Norman Baylen, một giáo sư nổi tiếng người Anh, sau khi nghiên cứu Phật pháp đã phát biểu: “Phật giáo là vị thánh dược để chữa trị những khổ đau hiện tại cho cõi châu Âu của chúng ta. Chúng tôi tin tưởng chắc chắn rằng những lời dạy của đức Phật và giáo lý trung đại sẽ khai ngộ nhãn quan, đưa chúng ta đến sự giác ngộ và giúp chúng ta chứng được cảnh giới hoà bình, quang minh và đại trí tuệ.”

    Như bình minh xua tan bóng tối và đem lại sức sống mới cho mỗi ngày, cũng vậy, ánh sáng của Chánh Pháp, của tình thương làm cho loài người sống an vui, tự tại, biết thương yêu tất cả mà không gây khổ đau cho ai cả. Trí tuệ và tình thương là hai điều cốt tuỷ luôn có trong đạo Phật; nền văn hoá Phật giáo được thể hiện trọn vẹn trên tiêu chuẩn ấy. Vì thế chúng ta tin tưởng rằng nhân loại văn minh ngày nay sẽ nhận rõ được giá trị to lớn của Phật Pháp. Mỗi khi Phật Pháp được áp dụng vào cuộc sống thì thế giới này sẽ tiến xa hơn nữa, vì đạo Phật luôn tương đồng với khoa học. Và chắc chắn rằng nhân loại, mỗi khi đã thực hành những lời dạy minh triết của đức Phật thì sẽ có được cuộc sống luôn an lành hạnh phúc.

    Đạo Phật được thiết lập bằng trí tuệ siêu việt từ sự thực chứng của đức Phật nên Phật Pháp rất dễ dàng chinh phục mọi khát vọng tinh thần của nhân loại trí thức ngày nay, và cũng rất dễ dàng thấm đượm trong tim óc quần chúng. Cuộc đời của chính Đức Phật và Giáo Pháp của Ngài trong suốt 45 năm Ngài hoằng đạo, chỉ với một mục đích duy nhất là làm sống dậy những giá trị cao đẹp nhất của con người và giúp cho con người đi đến chỗ hoàn thiện cuối cùng - chấm dứt toàn bộ đau khổ.

    Trải qua hơn 25 thế kỷ, đạo Phật đã không lúc nào ngưng đem lại lợi ích thiết thực cho cuộc đời. Mặc dù có rất nhiều hình thức phát triển đạo Phật của các bậc tài đức kim cổ tạo nên một sự nhận thức tổng hợp rộng lớn về đạo Phật - điều ấy là dĩ nhiên vì căn bản đạo Phật là tôn giáo luôn tôn trọng tự do tư tưởng. Dù Phật Giáo được phát triển dưới hình thức nào đi nữa thì Phật Giáo vẫn được lịch sử nhân loại ghi nhận là tôn giáo hiếu hoà và hiếu sinh nhất. Chưa có một cuộc chiến tranh hay hay một cuộc hành quyết nào nhân danh Đạo Phật. Chỉ điều ấy thôi cũng đã thấy Đạo Phật luôn phù hợp với nhân sinh mọi thời đại, mọi quốc độ vì bao giờ và ở đâu con người đều khao khát sự sống.

    Đức Phật là vị Giáo chủ duy nhất trên trần gian này tự nhìn nhận mình là con người không hơn không kém; không phải là Phạm thiên, không phải là Thần linh hay Thượng đế, không phải là sự hiện thân của bất cứ một đấng thiêng liêng nào. Ngài cũng không nhìn nhận mình là người đã sáng tạo và khởi xướng nên con đường siêu thoát. Ngài chỉ nhận mình là người tìm ra con đường đã có sẵn từ ngàn xưa. Con đường dẫn đến sự chấm dứt toàn bộ đau khổ ấy đã từng được các vị Phật quá khứ chứng ngộ và thuyết giảng; nhưng do vô minh và ái dục nên nhân loại không nhìn thấy được con đường trung đạo đó cho đến khi Ngài chứng ngộ.

    Đức Phật là vị giáo chủ xuất thân từ dòng dõi cao quý nhất trong các vị giáo chủ của nhân loại, nhưng Ngài cũng là một con người bằng da bằng thịt như tất cả chúng ta. Sau khi thấy rõ bao khổ đau của trần gian mộng huyễn, Ngài đã từ bỏ tất cả những gì vinh hạnh nhất của một con người để tìm kiếm con đường vô thượng an ổn. Sau bao nỗ lực phi thường của tự thân, Ngài đã chứng ngộ đạo quả tối thượng, trở thành Đức Phật Chánh Đẳng Chánh Giác. Trong bài kinh Thánh cầu, đức Phật kể lại:     

    “… Này các tỳ-kheo, ta cũng vậy, trước khi giác ngộ, khi chưa chứng Chánh Đẳng Giác, khi còn là Bồ-tát, ta suy nghĩ như sau: “Tại sao ta, tự mình bị sanh, tự mình bị già bệnh, chết, sầu, ô nhiễm tìm lại cầu cái bị sanh, già, bệnh, chết, sầu, ô nhiễm? Vậy ta, sau khi biết rõ sự nguy hại của những điều nguy hại ấy, hãy tìm cầu cái không ô nhiễm, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn.” Rồi này các tỳ-kheo, trong thời vàng son cuộc đời, ta xuất gia đi tìm cái chí thiện, tìm cầu vô thượng tối thắng đạo lộ…” (Majjhima Nikàya)

    Sự thành đạo của đức Phật và công cuộc hoằng hoá suốt 45 năm của đời Ngài đã nói lên những năng lực cao quý của con người. Loài người, và chỉ có loài người mới có khả năng để thành tựu sự chấm dứt khổ đau nếu con người khao khát và cố gắng. Đức Phật tự cho mình chỉ đóng vai trò dẫn đường, còn trách nhiệm giải thoát khổ hoàn toàn do con người quyết định. Trong kinh tạng Nikàya chúng ta thường gặp rất nhiều lời dạy của Đức Phật như vậy:

    “Các con hãy tinh tấn làm phận sự của mình. Đức Như Lai chỉ là vị chỉ đường”. (Dammapàda 270)

    "Tự mình là vị lãnh đạo cho chính mình. Không thể có vị lãnh đạo nào khác nữa. Chỉ có tự ngã thanh tịnh mới thật là vị lãnh đạo khó tìm”. (Dh. 100)

    “Vì vậy, này các tỳ-kheo, hãy tự mình là ngọn đuốc soi sáng cho chính mình, không nên nương tựa vào một ai khác mình. Hãy tự đốt ngọn đuốc Chánh Pháp, đừng nương tựa một Pháp nào khác…” (Mahà Parinibbàna sutta)

    Tinh thần nhân bản hay là sự tôn trọng giá trị con người bàng bạc khắp nơi trong kinh điển Phật giáo. Người đầu tiên bác bỏ sự phân biệt chủng tộc trong lịch sử nhân loại chính là Đức Phật, qua câu nói bất hủ: “Không có giai cấp trong dòng máu cùng đỏ”. Hoặc sự kiện nâng cao vai trò phụ nữ qua việc cho phép người nữ được xuất gia trong Giáo Pháp của Ngài cũng là sự kiện tiên phong của nhân loại.

    Tinh thần nhân bản và thái độ bình đẳng của Đức Phật bắt nguồn từ trí tuệ thực chứng của Ngài. Đức Phật luôn tôn trọng lý trí và bác bỏ mọi hình thức cuồng tín. Đọc bài kinh Kàlàma, rất nhiều học giả đã thốt lên lời kinh ngạc thán phục trước sự giáo huấn về đức tin của Ngài. Chưa có một lời khuyên sáng suốt và mang tính khoa học tương tự như thế trong các tôn giáo khác. Xin được trích một đoạn trong bài kinh đó để chúng ta cùng ôn lại:

    “Một thời, đức Phật đến thăm thành phố nhỏ tên là Kesaputta trong nước Kosala. Dân chúng của thành phố này được gọi chung là Kàlàma. Khi biết được Đức Phật đến Kesaputta, các vị Kàlàma đến yết kiến đức Phật và hỏi ngài:

    - Kính bạch tôn giả Gotama, có những sa-môn, bà-la-môn đến thăm Kesaputta trong nước Kosala. Họ giải thích triình bày giáo lý của mình và chỉ trích, khinh rẻ bài bác giáo lý của người khác. Lại có những sa-môn, bà-la-môn khác cũng đến giải thích, trình bày giáo lý của mình và chỉ trích, khinh rẻ, bài bác giáo lý của người khác. Kính bạch tôn giả Gotama, chúng con phân vân nghi ngờ, không hiểu giữa sa-môn, bà-la-môn ấy ai nói đúng sự thật, ai nói lời giả dối?

    Đức Phật đã dạy rằng:

    - Này Kàlàma, các con phân vân, các con nghi ngờ như vậy là phải, vì các con đã biết phân vân và nghi ngờ trước một sự việc cần phải phân vân và nghi ngờ.

    Này Kàlàma, đừng vội công nhận điều gì do truyền thống đưa lại.  Đừng vội công nhận điều gì do tin đồn đưa lại. Đừng vội công nhận điều gì vì điều ấy phù hợp với kinh diển của mình. Đừng vội công nhận điều gì do tưởng tượng đưa đến. Đừng vội công nhận điều gì vì điều ấy do một người mình kính trọng tuyên bố.

    Này Kàlàma, khi nào các con tự biết những việc như vậy là bất thiện, những việc như vậy là đáng chê trách, những việc như vậy bị người trí phê bình trách cứ, thì khi ấy các con hãy bác bỏ chúng. Này Kàlàma, khi nào các con tự biết những việc ấy là thiện, những việc ấy không đáng chê trách, những việc ấy được người trí tán thán; những việc ấy khi tạo tác và thực hành sẽ đưa đến an lạc và hạnh phúc thì khi ấy các con hãy tuân theo chúng”. (Anguttara Nikàya)

     Đạo Phật có mặt trên cuộc đời là vì con người và cho con người, để con người thực hành nhằm thoát khỏi khổ đau. Bản chất thực của cuộc đời là đau khổ nên bao giờ giáo lý thoát khổ của Đức Phật cũng là cứu cánh tối thượng. Chúng ta phải nhận rõ rằng đạo Phật là một tôn giáo vô thần, lấy nhân sinh làm trọng, lấy nỗ lực cá nhân và sự giác ngộ giải thoát của con người làm mục đích.

    Với tinh thần nhân bản đạo đức, người Phật tử tôn trọng sự sống của muôn loài và có thái độ tôn trọng tôn giáo của những người khác. Mọi người đều có quyền tự do tôn giáo, tự do thực hành hay tin tưởng một học thuyết, một chủ nghĩa riêng. Nhưng một người Phật tử chân chánh không nên hiểu lầm hoặc thực hành sai lời dạy của đức Phật. Giáo Pháp đã được Đức Phật thuyết giảng từ trí tuệ chứng ngộ của Ngài. Ngài luôn nhấn mạnh và làm cho hàng đệ tử nhận thức đúng đắn mọi hiện trạng của vạn pháp, bản chất của vạn pháp là vô thường-khổ-vô ngã. Một khi đã thấy được như thật bản chất của vạn pháp thì lúc ấy, người Phật tử sẽ không còn tà kiến do những ảo tưởng mang lại.

    Trong bước đường hoằng hoá, Đức Phật đã trao tặng cho nhân loại một nền Giáo Pháp thoát khổ; tính minh triết trong những lời dạy của Ngài vượt thời gian, vượt không gian và luôn là một nguồn diệu dược vô tận cho con người. Cũng trong tinh thần ấy, những bậc Thánh Tăng đã dày công kết tập, giữ gìn và trao truyền cho những thế hệ kế tiếp trọn vẹn những lời dạy trí tuệ của Đức Phật. Tuy nhiên, ngày nay, có rất nhiều người khi đến tìm hiểu đạo Phật, họ đã có những sự hiểu lầm về đạo Phật. Họ nhận xét đạo Phật mang nặng màu sắc hình thức, chủ yếu là cầu khấn van xin tương tự như một cuộc mua bán đổi chác. Có nhiều người còn tuyên bố Đạo Phật là đạo đa thần vì họ thấy có rất nhiều nhân vật được thờ cúng nhuốm đầy màu sắc mê tín huyền bí. Thậm chí rất nhiều Phật tử ngày nay có thái độ ngộ nhận như vậy.

     Trước bối cảnh hiện nay của thế giới, nhiều tư tưởng gia và khoa học gia đã nhận thấy được vai trò và sứ mạng dẫn lối cho con người trong công cuộc cải thiện thế giới của đạo Phật. Trong thế kỷ tâm linh tôn giáo này, họ hy vọng đạo Phật sẽ thay thế và hoán cải được tình trạng bế tắc tâm linh và giúp nhân loại xây dựng một thế giới hoà bình, an lạc. Vì vậy, hơn bao giờ hết, lúc này những người con Phật cần phải có chánh kiến về giáo pháp của đấng Từ Phụ. Phải thay đổi sự ngộ nhận bên trong chính mình bằng sự hiểu biết rõ ràng về những gì đã được đức Phật chỉ dạy. Đạo Phật không chấp nhận những hình thức mê tín, những nghi lễ tế tự như những hình thức hối lộ thần linh hay những vị đại diện thần linh để được cứu chuộc. Những lời dạy của Đức Phật là những lời dạy về trách nhiệm của mỗi con người đối với cuộc đời.

    “Không làm các việc ác; hãy làm các việc lành; giữ tâm ý trong sạch…” thường được Đức Phật khuyên dạy hàng môn đệ của mình. Một khi tất cả những người con Phật không còn ngộ nhận những lời dạy của đức Phật, hiểu rõ trách nhiệm nơi mỗi hành động tạo tác của mình đều đưa đến những kết quả tương quan, lúc ấy đạo Phật mới thoát được những hình thái sai lạc. Chính khi ấy một đạo Phật trong sáng, nhân bản và phù hợp với mọi thời đại cũng như với mọi quốc độ lại xuất hiện, uyên nguyên, minh triết như nó đã từng xuất hiện thì chắc chắn sứ mạng dẫn đường cho nhân loại của đạo Phật sẽ thành tựu viên mãn.  

    CH.

     

     

     

     

     

     


    Trang thơ Chơn Hữu

     

     

    Viết những bài thơ

    Viết những bài thơ lên cát trắng

    Ta trao tặng biển thêm màu xanh

    Lời của sóng bên tai vội vã

    Ta lặng mình biển quay bước nhanh.

     

    Viết những bài thơ lên ngày tháng

    Ta vẽ thành mây trắng mông mênh

    Mây phiêu dạt soi mình trong sóng                                                                                  Để thấy mình muôn kiếp lênh đênh.

     

    Viết những bài thơ gửi cho gió

    Ta ngợi ca bầu trời trong xanh

    Thơ được viết từ dòng máu đỏ

    Và đẹp như giọt lệ long lanh.

     

    Viết những bài thơ xin giã biệt

    Khi hôm nao cát bụi hoá than

    Đáy biển sâu ngàn đời không biết

    Chốn chiêm bao vắng bóng cố nhân.

     

    Rồi một chiều mưa ta ngồi khóc

    Những bài thơ trong vắt nhạt nhoà

    Thương tri kỷ đàn xưa đập vỡ

    Vẳng tiếng cầm hoang mạc bao la.

     

     

    Hoa núi

    Ô kìa! Đẹp làm sao

    Bông hoa nở bên rào

    Chợt thiên thu đứng lại

    Nghiêng nghiêng cánh mỉm chào.

     

     

     

    Chia tay

    Chia tay xin cạn chung trà

    Ngày mai cách biệt phương xa bụi hồng

    Đất trời gió cát mênh mông

    Nơi đây vẫn mãi dòng sông đợi chờ.

     

     

    Mây bay cuối trời

    Ta lặng lẽ bước đi

    Bên bờ sông cô tịch

    Dòng sông nói điều chi

    Mà đá xanh trầm mặc

    Ta bước nhẹ qua sông

    Với hai bàn chân không

    Bước trần sao ngần ngại

    Dòng nước cuộn mênh mông

    Ta ra đi vì lẽ

    Thấu rõ thân phận mình

    Tháng ngày dài đam mê

    Nỗi buồn nào không tên

    Ta ra đi một lần

    Hành trình về xa xăm

    Dù ngàn lần phải chết

    Từ sâu thẳm xác thân

    Ra đi hay trở về

    Nơi suối nguồn cô liêu

    Thở và cười rất khẽ

    Mây bay cuối trời chiều.

     

     

    Qua biển

    Chân trần ta đi qua biển

    Nghe buồn giọt nước triều vơi

    Bờ dài cát nằm im tiếng

    Ngỡ ngàng nhìn bóng mình trôi.

     

     

     

    Sa mạc thương đau

    Có ai ngang qua sa mạc

    Làm rơi mấy hạt u sầu

    Có kẻ vô danh cúi nhặt

    Đêm về nảy mộng thương đau.

     

    Hỏi

    Có bao giờ em đã thấy

    Đời hắt hiu như nến buồn

    Tháng năm hao gầy ngún cháy

    Ảo vọng tàn tro trắng vương.

     

    Chùa xưa

    Chùa xưa giữa cảnh làng

    Nét cổ tích mang mang

    Nền đất nằm khiêm tốn

    Vách vôi đứng hiên ngang

    Tình quê còn giản dị

    Ý đạo vẫn thênh thang

    Tự tại cùng lau cỏ

    Hân hoan đón nắng vàng.

     

     

    Thu

    Rừng chiều ảm đạm cảnh thu sơ

    Từng giọt mưa bay sắc nhạt mờ

    Dốc núi trùng trùng lau lách úa

    Góc rừng điệp điệp cỏ cây mơ

    Mây giăng khói bạc sầu trang sách

    Gió thổi hơi vàng lạnh ý thơ

    Lữ khách vu vơ nhìn vách núi

    Thời gian đứng lại tự bao giờ.

     

     

     

     

     

    Sen vàng

    Có ai rao bán ước mơ

    Để khi ngày đến bơ vơ nỗi lòng

    Cuộc người sao cứ hoài mong

    Thời gian lặng lẽ như dòng sông trôi

    Mây in đáy nước phai phôi

    Chim bay mất dấu giữa trời thênh thang

    Ô kìa một đoá sen vàng

    Hương thơm thanh khiết dịu dàng quanh đây.

     

    Mộng trường

    Gió đùa hơi nước lay bay

    Trăng khuya đọng hạt trên cây Bồ đề

    Nửa đêm tỉnh giấc sơn khê

    Ô hay ai vẫn mãi mê sông hồ

    Quê hương khuất bóng tuổi thơ

    Trần gian bàng bạc hư vô cuối đường

    Nỗi lòng của khách tha phương

    Chập chùng cánh bướm mộng trường nước mây.

     

     

    Nghe mưa

    Có một lần chợt lắng nghe

    Cơn mưa qua núi bốn bề mênh mông

    Nghe sầu dâng ngập cõi lòng

    Ngoài hiên bong bóng bập bồng vỡ tan

    Rừng nghiêng chiếc lá mơ màng

    Giọt trong theo cánh gió ngàn bay đi

    Tiếng mưa như tiếng thầm thì

    Ngỡ mưa muốn nói điều gì với ta.

     

     

     

     

     

     

     

    Có phải

    Có phải đời là chuỗi ngày buồn

    Rồi từng người tan biến như sương

    Vì hình hài mong manh giới hạn

    Mỗi phận người mỗi khách ly hương

     

    Có phải người không thể lặng câm

    Như trời sao đêm khuya âm thầm

    Nên sinh ra đã oà tiếng khóc

    Cho niềm đau buốt giá thinh không

     

    Có phải cả trần gian đều say

    Để cho tan biến kiếp lưu đày

    Khi đã thấy mặt mày sự chết

    Mùa thu từng chiếc lá vàng bay

     

    Có phải cuộc đời là cuộc mộng

    Cuối con đường hố thẳm hư không

    Nếu như thế xin làm mây trắng

    Để rong chơi trọn kiếp phiêu bồng.

     

     

    Cảnh đêm

    Đêm đông thơm mùi sương núi

    Trăng khuya đọng hạt trên cây

    Rì rào miên man con suối

    Gió vờn qua lá lắt lay.

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Với núi kết thân

     

    Trên đỉnh ngàn cô quạnh

    Ngồi yên với cô lieu

    Khối lòng riêng sóng sánh

    Hoàng hôn khoe sắc chiều

     

    Hớp ngụm trà gió trời

    Hư không dính bờ môi

    Nghe non ngàn thinh lặng

    Một mình với chơi vơi

     

    Thôi nhé ngày nông nổi

    Ta quẳng kiếm bên đồi

    Xin làm viên đá sỏi

    Lặng im ngắm mây trôi

     

    Chừ với núi kết thân

    Có bốn bề gió lộng

    Ngồi hát khúc vô ngôn

    Giữa núi rừng mênh mông.

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Để gió cuốn đi

     

    Có những lần

    giữa núi rừng giông bão

    tiếng thét gào mưa gió

    cơn cuồng nộ đất trời

    thấy mình thật nhỏ bé

    Muốn để gió cuốn đi

     

    Có đôi khi

    giữa bóng tối của đêm

    nỗi buồn nào không tên

    từ đâu về mênh mông

    nghe phận người hữu hạn

    Muốn để gió cuốn đi

     

     

    Có những gì

    nơi một cuộc phiêu hành

    giữa ý niệm quẩn quanh

    tôi đã mỉm cười vì

    chẳng có gì ý nghĩa

    Muốn để gió cuốn đi.

     

     

     

     

     

     


    NHỮNG CƠN MƯA THÁNG 9

    1.

    Bất cứ khi nào và ở đâu cũng vậy, mỗi khi nghĩ về Ngài Cố Tăng trưởng Phật giáo Nguyên Thuỷ Việt Nam tôi đều cảm thấy tâm mình dâng lên một niềm hoan hỷ diệu vợi… Một hình ảnh, một tấm gương mà suốt cả cuộc đời tôi sẽ vẫn luôn ngưỡng mộ và kính phục.

    Trời lúc này đã sang tháng mười một. Những cơn mưa buốt giá vẫn phủ xuống đất Huế như còn vương nỗi tiếc thương trước sự ra đi của Người về nơi cõi vĩnh hằng.

    “Điều gì thuộc về trái tim thì  sẽ còn mãi giữa lòng người!(1) Vâng, điều ấy là sự thật mà bất cứ ai cũng đều cảm nhận.

    Bao nhiêu cuộc đời đức hạnh đã đi qua nơi trần gian giả tạm này, mỗi người ra đi đều để lại một cái gì đó cho những người ở lại. Ngài cũng vậy, đã đi xa, nhưng đã để lại cho chúng tôi, những người tu Phật, một giáo sản vô ngôn nhưng vô vàn quý giá; cũng như chân lý luôn hiển hiện nơi những gì bình thường nhất vậy.

    2.  

    Cũng những cơn mưa, những mùa mưa, những sáng trời mưa gió – mưa Huế thật lạnh. Ngài với tam y mỏng manh và bình bát trên tay, không quản nắng mưa, khất thực gieo duyên khắp nơi; cũng đủ là một hình ảnh mà ai đó đã được cúng dường để bát cho Ngài, dù chỉ một lần thôi, cũng sẽ được tăng thêm tín tâm bội phần nơi Tam Bảo, và tạo thành một thiện nghiệp vô cùng mãnh liệt để tái sinh vào thiện cảnh. Ngài đã âm thầm đi bát gần 50 năm như thế thì đã có biết bao chúng sanh được nương nhờ thiện quả từ nơi ruộng phước của Ngài.

    Với tứ vô lượng tâm, với suối nguồn Giáo pháp giác ngộ, và với những bước chân chánh niệm lặng lẽ; Ngài là hiện thân đích thực của một vị “Sứ giả Như Lai” đã thành tựu việc đưa dòng “Đạo sống uyên nguyên” vào với cuộc đời cùng với hạnh nguyện đầu đà khất thực mỗi ngày. Ngài đã phục vụ chúng sanh cho đến hơi thở cuối cùng: đem đạo vào đời, đem chân lý giác ngộ cao cả phổ cập vào nhân gian chứ không phải là những hình thức lễ nghi, danh từ, chữ nghĩa sáo rỗng hoặc khoác màn thần bí linh thiêng để chứng tỏ mình cao siêu, cao thượng hơn thiên hạ.

    Con người ai cũng có tên cùng danh xưng. Riêng Đức Cố Tăng trưởng không cần đến danh xưng, nói đến nhà sư sáng nào cũng đi khất thực thì hầu như ai sống nơi đất Thần kinh này đều biết đến Ngài. Là một Đức Tăng thống(2) của Phật giáo Nam Tông mà Ngài chỉ là một người bình thường giản dị như chúng ta! Nói rõ, Ngài chỉ là một người sống đúng theo Chánh Pháp giác ngộ! Ngài đã giác ngộ bản thân, giác ngộ đời sống, giác ngộ tự trong lòng thế gian chứ không phải ở đâu khác, ở cảnh giới nào khác.

    Lúc Ngài nằm xuống, hàng chục vạn người đã đến, họ đã khóc; những giọt nước mắt không phải là đau đớn, mà bởi vì từ đây họ không còn cơ hội tu học, tạo phước, gieo duyên nơi Ngài nữa.

     Khi Ngài còn tại tiền, ai cũng thấy Ngài thật gần gũi. Chính nhờ nơi sự chứng ngộ thầm lặng, nơi sự an lạc và thanh tịnh nội tâm, nơi một đời sống giản dị, trong lành và thanh thoát ấy mà bất cứ lúc nào chư thiện tín cần gặp đều được gặp. Nắng. Mưa. Khuya. Sớm. Hễ ai có điều gì bất an, đến thỉnh Ngài về nhà tụng kinh chú nguyện, Ngài đều hoan hỷ nhận lời.

    Khi Ngài nằm xuống, mọi người càng cảm thấy Ngài gần hơn. Trong mọi ánh mắt, lời nói và những hành động hoà hợp trong tang lễ Ngài đã nói lên điều ấy. Ngài không ra đi, Ngài vẫn còn đó. Hình ảnh cao quý thanh khiết của Ngài sẽ còn mãi mãi theo thời gian, trong trái tim trân trọng của tất cả mọi người.

    3.

    Ba mươi ba tuổi, gần một nửa đời người, còn mãi quẩn quanh trong vòng ý niệm, tôi có cảm tưởng như lòng mình đã bị đông cứng bởi rừng danh từ, ngôn ngữ và khối không-thời gian mênh mông chế định… Cho đến hôm nay, hình ảnh đi bát gần 50 năm và một đời sống phạm hạnh trong lành của Ngài đã làm cho tôi tỉnh ngộ. Khối ảo tưởng như rạn vỡ… Niềm cảm xúc dâng lên dạt dào! Chân lý không nằm nơi sách vở vô tri và khô chết mà là nơi những gì đang là; nơi từng hơi thở, nơi từng bước chân thong dong vào xóm làng khất thực của Ngài vậy!!!

    Chúng ta là đệ tử của Đức Phật, đi theo Con đường Vô thượng của Ngài thì chúng ta phải noi theo gương sáng của Đức Cố Tăng trưởng!

    “Hãy sống, thở, ăn nói, làm việc, đi đứng… trong tương quan với mọi người; phải thường trực có ánh sáng giác ngộ chiếu soi! Phải nhìn ngắm cho rõ những tham vọng, mưu cầu, toan tính… nhỏ bé, chật chội của bản ngã! Bản ngã thường đánh lừa, đánh tráo, biện minh, xảo ngôn…”. Đó  chính là lời mà đức Cố Tăng trưởng dường như muốn nói với chúng ta!

     Sáng nay, trên đường khất thực, mưa lay bay. Trong hình hài tứ đại, cũng trên con đường mà trước đây hai tháng Ngài vẫn thường đi qua; tôi chợt cảm nhận một điều gì đó thật thiêng liêng, như lời của Đức Đại giác từ ngàn xưa còn vang vọng: “Không có ta và không có gì là của ta cả”. Bất chợt, tôi thấy rõ mình thực sự không là gì cả, nơi trần gian này, trong hình tướng của một người xin ăn nhân thế.

    4.

    Có lẽ thành phố Huế là nơi có nhiều chùa nhất trong cả nước. Nhưng duy nhất chỉ có chùa Thiền Lâm, nơi Ngài cư trú, mới có đạo tràng tu gieo duyên với Pháp đầu đà từ thời đức Phật để lại(3). Cứ đến những ngày lễ chính là chư thiện tín vân tập về đây, tu tập đầu đà, ngăn oai nghi nằm và hành thiền dưới sự dẫn dắt của Ngài.

    Trong mỗi chúng ta, những đệ tử Ngài, ai cũng có nhiều kỷ niệm về Ngài. Nhớ những đêm được thọ đầu đà cùng Ngài. Những lần Ngài thuyết pháp, những câu nói với từ tâm vô lượng khiến cho một lần được tiếp kiến; đảnh lễ Ngài, là phát sanh niềm hoan hỷ trong suốt mấy hôm liền. Ngài luôn chú ý đến những hạnh phúc tinh thần của chúng sanh, lấy đó làm công việc của mình.

    Ngài đúng là một vị “ẩn sĩ tịch tịnh giữa cuộc đời” , như trong bài kinh “Giới phân biệt” trong Trung Bộ Kinh III. Chính nhờ tâm thanh tịnh biết quên mình đi của Ngài, mà mọi người đã cảm nhận được Chánh Pháp luôn hiện hữu giữa muôn màu muôn vẻ của những hình thức giả tạo và hư dối. Thật đúng như lời của một vị Thiền sư đương đại: “Chân lý, dù người ta có chà đạp xuống tận bùn sâu thì luôn vẫn là chân lý. Tà kiến, dù có tán dương lên tận mây xanh thì muôn đời vẫn là tà kiến!”.

    5.

    Mọi người trong Hệ phái Phật giáo Nam Tông đều tiên liệu trước sự ra đi của Đức Tăng trưởng trong năm 2002 này, vì một lời nguyện trước đây của Ngài. Đầu năm 2002, Chư Tăng và Phật tử trong Hệ phái đã tổ chức lễ mừng thọ và cung thỉnh Ngài xả bỏ lời nguyện cũ để trụ thế thêm cho mọi người được nương nhờ. Buổi lễ ấy được tổ chức rất cung kính tại Thiền Lâm tự. Tôi thật diếm phúc được có mặt trong buổi lễ ấy. Hôm đó là một ngày mùa xuân thật đẹp. Ngài ngồi giữa Chư Tăng, nhỏ bé và khiêm tốn nhưng uy nghi và an tịnh một cách lạ lùng! Sau khi một vị Sư cao hạ thay mặt Chư Tăng, ba lần đọc lên lời thỉnh nguyện, Ngài im lặng, hiền dịu với nụ cười. Tất cả Chư Tăng đều thành kính và nhất tâm như một khối núi đá, đọc kinh vang lên như hải triều âm. Ngay lúc ấy, tôi chợt có linh cảm rằng đây là lần mừng thọ cuối cùng của Ngài. Thấy vọng tưởng mình thật dễ sợ, tôi vội niệm chín hồng ân Đức Phật, Cầu xin Chư Phật chứng minh và gia hộ cho Ngài thêm nhiều tuổi thọ; cầu xin cho lời thỉnh nguyện của Chư Tăng được thành tựu… Vậy mà, không ngờ! Hỡi ôi!

    6.

    Tin Ngài mất đến vào buổi sang, lúc ấy tôi đang ngồi họp ở UBND xã, và thật bất ngờ. Điện thoại của Sư thúc reo liên tục, cuộc họp về nhà đất cũng vừa xong. Sư thúc tôi sau khi nhận tin, quay qua tôi, giọng người thật điềm tĩnh: “Ngài đi bát, bị tai nạn giao thông, Ngài mất rồi. Con hãy vào núi báo tin cho thầy con biết, Sư thúc lên Thiền Lâm trước”. Tôi choáng váng như không tin vào tai của mình. Nhưng nhìn nét mặt của Sư thúc, tôi biết mình không nghe nhầm. Lúc ấy, cảm xúc của tôi thật khó tar, sợ mình không làm chủ được vì quá xúc động, tôi vội tinh tấn chánh niệm ghi nhận tâm của mình. Rời khỏi UBND xã Hương Hồ, tôi chạy xe về núi để báo tin cho Sư phụ. Khi xe qua khỏi những nơi có người ở, giữa núi rừng mênh mang… bao nhiêu hình ảnh thân thương của Ngài hiện ra trong tâm. Nước mắt rơi xuống như mưa… tôi cứ để mình khóc tự nhiên. Nhớ lần cuối, gặp Ngài trước đó hai hôm, khi đi trai tăng ở nhà một Phật tử, Ngài vẫn với nụ cười trẻ thơ khi tôi cung kính vái chào Ngài, thế mà!... Lên đến núi tôi cho xe chạy thẳng xuống “Tuệ Học Đường” nơi Sư phụ đang dạy. Nhìn kiểu tôi chạy xe khác thường, Thầy và cả lớp như đã cảm nhận chuyện gì đó không hay. Khi tôi báo tin, cả lớp bàng hoàng. Thầy cho dừng buổi học và tức khắc mở cuộc họp cả chùa. Sau đó, tôi chở Thầy lên Thiền Lâm thì đã thấy Ngài nằm đó, vẫn với nụ cười phiêu phất như còn vương niềm hỷ lạc của thiền. Có điều Ngài im lặng. Vĩnh viễn từ đây Ngài đi vào cõi im lặng “mặc như lôi!”.(4)

    7.

    Nhục thân Đức Tăng trưởng được đặt trên chiếc giường quen thuộc của Ngài. Từ lúc đưa Ngài từ nơi tai nạn về đây, Suốt mười tiếng đồng hồ trước lúc nhập Kim quan, rất nhiều người từ mọi nơi kéo đến khi hay tin. Ai cũng muốn xin vào chiêm bái và đảnh lễ nhục thân Ngài. Vì số lượng người quá đông nên căn phòng để nhục thân Ngài mở bung hết mọi cánh cửa. Khi sống, Ngài không hề từ chối gặp bất cứ một ai, từ người cao sang quyền quý cho đến kẻ nghèo hèn mạt vận; khi Ngài nằm xuống, mấy sư trong Hệ phái cũng không nỡ làm mọi người thất vọng, nên ai nấy đều được tận mắt chiêm bái nhục thân của Ngài.

    Thật kỳ lạ, suốt mười giờ trôi qua mà thần sắc Ngài vẫn hồng hào, trên môi vẫn nở nụ cười hồn nhiên của hài nhi như thường ngày vậy. Tôi cùng mấy huynh đệ nữa được cho phép đứng hầu bên nhục thân Ngài cho đến lúc nhập Kim quan. Suốt khoảng thời gian ấy chúng tôi ai cũng đều cảm nhận được năng lực định thiền toả ra từ nhục thân Ngài.

    Dường như sự hiện hữu hay phi hữu trong cuộc đời đau khổ đã từ lâu không còn là điều quan trọng đối với Đức Cố Tăng trưởng. Sứ mạng của Ngài là an nhiên đi qua cuộc đời với một niềm tin bất hoại nơi Tam Bảo; với hình hài, thân xác rất đỗi mỏng manh, dễ bị tổn thương; vậy mà rất kiên định, Ngài xuyên suốt một quãng thời gian dài hoằng hoá Chánh Pháp: bằng mạch sống, bằng thực hành nhiều Pháp đầu đà của mình. Có lẽ sẽ khó và hiếm có ai đủ sức kiên định, đại định để thực hành lời Phật dạy, như Ngài, nơi thế gian bị vây phủ bởi vô minh và ái dục ngày càng dặt dày.

    8.

    Tang lễ của Đức Cố Tăng trưởng Hệ phái Phật giáo Nguyên Thuỷ Việt Nam được tổ chức một cách trọng thể và trân trọng. Mọi Phật tử đều luôn tri ân Ban trị sự GHPGVN. Một khoảng thời gian rất ngắn, khi vừa hay tin Ngài mất, hai văn phòng của Trung ương Giáo hội tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh đã triệu tập cuộc họp khẩn cấp để thành lập BTC tang lễ cho xứng đáng với tầm vóc đức hạnh của Ngài.

    Những ngày cử hành tang lễ, trời mưa thật nhiều. Mưa trắng xoá cả thành phố Huế. Mưa như từ lòng đất tuôn lên. Bầu trời u ám như bày tỏ nỗi tiếc thương của trời đất, trước sự ra đi của một nhân cách vẹn toàn: Chân - Thiện - Mỹ.

    Những đoàn người xếp hàng dài dằng dặc, nước mắt của những người đến viếng Ngài cũng nhiều như những cơn mưa tháng 9 vậy.

    Trong những ngày mưa gió tơi bời ấy, con đường dài vào chùa Thiền Lâm lúc nào cũng tràn ngập người và hoa. Những đoàn người kỉnh mộ kiên nhẫn đứng xếp hàng lặng lẽ, chờ đến lượt mình vào thắp nén nhang cúng dường Ngài lần cuối.

    Các đài truyền hình trong nước liên tiếp đưa tin. Trên mạng Internet, trong một trang web PG xuất hiện dòng tin buồn từ ngay hôm đầu tiên Ngài viên tịch. Một số Phật tử kể: “Đài BBC phát tin Đức Tăng trưởng Hệ phái Phật giáo Nguyên Thuỷ Việt Nam viên tịch suốt cả tuần lễ”; thật đúng như lời kinh Đức Phật đã dạy:

    “Hương các loài hoa thơm, không bay ngược chiều gió. Nhưng Hương người đức hạnh, ngược gió bay khắp muôn phương”.

    Những đoàn người về viếng Kim quan Ngài tưởng như không đếm xuể, tuy mỗi người chỉ có được vài phút để vào làm lễ trước Kim quan; thắp một nén nhang, đảnh lễ, để bày tỏ niềm kỉnh mộ của họ với người mà họ luôn yêu kính. Có người đến viếng với vòng hoa bạc triệu, có người đem theo những lễ phẩm quý giá, có người đến chỉ với thẻ nhang, có người đến tay không nhưng với tâm thành kính vô hạn. Ngài đón nhận tất cả, như nhau, như khi còn tại tiền Ngài vẫn vậy, luôn rộng mở từ tâm với mọi người. Chưa từng có sự so tính, phân biệt khoảng cách nào.

    9.

    Có chứng kiến cảnh người xứ Huế đưa tiễn Ngài, và còn rất nhiều người nữa trong và ngoài nước âm thầm thọ tang và tưởng nhớ, mới thấu hiểu được công đức của Ngài.

    Ngài đã trở thành người của đại chúng.

    Những ngày và đêm trước khi cung tiễn Kim quan Ngài nhập Bảo tháp; những người đến viếng đều được BTC tặng quà Pháp Bảo. Đến khi đêm xuống, có rất đông Phật tử đến thức và phát nguyện thọ đầu đà như những lần cuối cùng với Ngài. Trong những đêm ấy, BTC đã cung thỉnh một số vị Pháp sư danh tiếng đến thuyết pháp, nhờ vậy mà có thêm rất nhiều người được hiểu biết thêm và được gieo duyên với Chánh Pháp. Ôi, quả là suốt một đời, cho đến khi nằm xuống rồi mà Ngài còn đem lợi lạc đến cho quần sanh.

    Sáng sớm ngày 14 tháng 9 Nhâm Ngọ, cả một vùng núi đồi rộng lớn của Thiền Lâm đã đông nghịt người. Ngày hôm ấy trời quang, mây tạnh. Tham dự lễ truy điệu và cung tiễn Kim quan Ngài nhập Bảo tháp, ngoài Ban trị sự GHPGVN Trung ương, Thừa Thiên Huế còn có rất nhiều vị lãnh đạo cao cấp của Tỉnh, TP… Đoàn đưa tiễn chầm chậm đi qua con đường quen thuộc thường ngày Ngài vẫn đi bát. Nhiều Phật tử tung hoa cúng dường. Hoa bay lả tả khắp cả không gian nơi Kim quan Ngài đi qua, như hoa Mạn đà la do chư thiên tung rải cúng dường Đức Thế Tôn tịch diệt Niết Bàn thuở nọ. Tôi chợt liên tưởng đến bài kinh Đại Bát Niết Bàn, trong bài kinh ấy có đoạn: “Lúc Thế Tôn sắp sửa tịch diệt Niết Bàn. Ngài Ananda có hỏi Đức Thế Tôn:

    “Bạch Đức Thế Tôn, chúng con phải lo xử sự thân Xá Lợi Thế Tôn như thế nào?”

    “Này A Nan, các con đừng lo lắng vấn đề cung kính thân Xá Lợi của Như Lai. Này Ananda, các con hãy nỗ lực, hãy tinh tấn hướng về tự độ; sống không phóng dật, cần mẫn chuyên hướng về tự độ. Này Ananda, có những học giả Sát Đế Lợi, học giả Bà La Môn, những vị này sẽ lo cung kính cúng dường thân Xá Lợi của Như Lai. Thân Xá Lợi của Như Lai sẽ được xử sự cung kính như một vị Chuyển luân Thánh Vương…”. Quả thật vậy, chân lý do Phật dạy luôn vượt thời gian và không gian. Bất chợt tôi nhớ rằng, Đức Cố Tăng trưởng thân yêu của chúng ta cũng xuất thân từ dòng dõi Hoàng tộc.

    Hành trạng của Đức Cố Tăng trưởng sẽ không có ngôn từ nào tán dương hết được. Tôi muốn dừng bài viết này với bài thơ như một nén nhang lòng xin thành kính đảnh lễ Giác linh Đức Cố Tăng trưởng Phật giáo Nam tông Việt Nam với bao niềm kính tiếc.

    Bước Cha Lành

    (Kính dâng Giác linh Ngài)

     

    Đầu trần chân đất y vàng

    Trên tay bình bát xóm làng gieo duyên

    Từ tâm cùng khắp mọi miền

    Mắt xanh thế cuộc tâm thiền rỗng không

    Bước chân từng bước thong dong

    Vào miền tập đế Sa môn chạnh lòng

    Xin ăn vài miếng nuôi thân

    Đã ngàn năm trước trong ngần đường mây.

                                                                                                         Huế, mùa đông 2002

                                                                                                             Sa di Chơn Hữu

                                                                                                                   Kính bái

     

     


     

    LAN MAN NHỮNG CƠN MƯA

    Chơn Hữu

     

     

    Chiều thu, mưa rơi nhẹ. Gió mang hơi thu như từ đâu thổi về… từng giọt mưa nhanh dần, nhanh dần như muốn làm cho núi đồi mát dịu bởi cái nóng hạn hán đã lâu.

    Tôi như muốn nhoà theo dòng mưa, dòng thời gian, mà với tôi, hình như trên trần gian này chỉ có mưa là đẹp nhất, thơ mộng nhất, đáng yêu nhất. Không hiểu cái tình yêu mưa này đã có trong tôi từ bao lâu? Chắc từ lâu lắm rồi, có thể là một thứ tình yêu di truyền từ tiền kiếp!

    Mưa mỗi lúc mỗi lớn. Rừng cây như nhảy múa tưng bừng. Cả núi rừng Huyền Không Sơn Thượng chìm dưới mưa. Những hàng thông reo vang trong gió như ngợi ca mưa. Rừng thông dưới mưa thật đẹp; đẹp và mơn mởn sức sống như những rừng thông nơi thành phố sương mù Đà Lạt vậy. Biết bao lần tôi lang thang trong mưa nơi thành phố cao nguyên nhiều thông, nhìn những cây thông và rồi cảm cái lạnh của đời mình, chỉ vì không tìm được bản thông điệp cuộc đời nơi rừng thông tóc lá xanh xanh…

    Mưa Đà Lạt thường nhẹ nhàng gợi lên một cái gì bâng quơ, một nỗi buồn mơ màng với những kỷ niệm lãng mạn. Mưa Đà Lạt không giống mưa Sài Gòn - những cơn mưa xối xả làm bốc khói mặt đường. Những cơn mưa ào ạt như những lần xốc nỗi của đời người. Nhớ một mùa mưa Sài Gòn mà chiều nào cũng ngồi quán cà phê, ngắm những dòng mưa chảy theo mặt kính, nghe hồn dâng lên khúc gì vu vơ… Có buổi chiều mưa thật lớn, nước ngập tràn mặt đường lênh láng, chợt thấy mình xa lạ giữa mông mênh.

    Mỗi cơn mưa đều có riêng một vẻ đẹp, không cơn mưa nào giống cơn mưa nào cả. Mưa trên biển cũng rất đẹp, một vẻ đẹp thật lạ lùng; những giọt mưa như làm cho cả đại dương nở hoa và ướt át như những người con gái khóc lóc chuyện tình. Chiều mưa biển Hội An, nhớ mình và mấy huynh đệ cùng ngồi làm thơ; ngắm đường chân trời trắng xoá, rồi cùng đi chung một chuyến xe cũ kỹ xuống thăm phố cổ khi trời vẫn còn chưa thôi mưa… Những huynh đệ ấy giờ mỗi người mỗi nẻo, tận Thái Lan hay Myanmar mà trên bước hành trình sẽ vẫn còn nhớ mãi…

    Có lẽ càng yêu mưa thì tôi càng sợ nắng! Tôi vốn sợ, rất sợ, và thường bực bội với những cơn nắng toé lửa. Một lần, như bỏ chạy trước sự nóng bức của những tia nắng mặt trời; nghe dự báo thời tiết ở miền Bắc có mưa, vội vàng làm một cuộc phiêu bồng, và hôm sau, đã một mình lang thang dưới mưa trên con đường có nhiều hoa sữa, trong lòng Hà Nội. Thấy mình thật sung sướng. Chưa thấy đủ, tôi tự để lòng mình đầu hàng cám dỗ; vì sợ cám dỗ vội trôi qua; tiếp tục cuộc hành trình phiêu lưu với mưa lên vùng cao nguyên miền Bắc, nơi những vùng xa lạ mà chưa một lần đặt chân đến. Mưa Sapa thật lạnh, mưa lất phất, lay bay như muốn quyến rũ thi nhân với vẻ đẹp bí ẩn của đỉnh Fasipan bốn mùa trong mây. Mưa nơi thành phố biên giới Lào Cai có lẽ là nhàn nhã nhất; cả thành phố im vắng, không người qua lại. Chiều mưa nơi cửa khẩu qua Trung Quốc thật ấn tượng;không gian và thời gian khi ấy như tím thẩm; từng áng mây hờ hững bay qua dãy núi trông tựa như từng bước chân lãng đãng của Tô Đông Pha đang cợt đùa viễn mộng xa xăm với kiếp lưu đày ngàn năm ảo hiện. Buổi chiều mưa nơi biên giới ấy, tôi như cảm nhận trọn vẹn nỗi cô đơn, để lập tức, sau đó lên tàu trở về Huế.

    Chiều nay, đã rất lâu mới có một cơn mưa da diết đến như thế. Ngồi nghe mưa rơi và đếm những cơn mưa đi qua cuộc đời. Có thể không nhớ hết được những cơn mưa, như những kỷ niệm mà mấy ai nhớ hết. Nhưng nếu có không nhớ hết thì đã sao, vì cuối cùng những cơn mưa cũng tan biến vào hư vô!

    Tất cả những cơn mưa đều có nét gì đó thật buồn, thật thơ và thật mong manh như nỗi niềm của thân phận. Một cái gì đó không thực hay chỉ bình thường là những cơn mưa…?

    Đêm đã khuya, ngoài kia trời vẫn chưa thôi mưa!

     

     

     

     


     

     

     

    THAM VÔ BIÊN

    Chơn Hữu

    Cuộc đời quả đúng như lời của một triết gia Tây phương: “Nhìn gần cuộc đời là một bi kịch, nhìn xa cuộc đời là một hài kịch.” Nhưng có lẽ cả hài kịch và bi kịch đều là những yếu tố chính để vun đắp cho cuộc đời mãi mãi xanh tươi. Có thật sự thấm đẫm những nỗi niềm như khổ đau, hạnh phúc, tuyệt vọng, hy vọng… mà cuộc đời ban tặng, ta mới thấu hiểu được nỗi buồn thân phận của kiếp nhân sinh.

    Trong cái chuỗi thời gian bất tận của cuộc đời, mỗi cá nhân dường như chỉ hiển hiện ngắn ngủi rồi mất hút giữa mênh mông. Sự hiện hữu nào rồi cũng phải nhạt nhoà tan biến. Nhưng có sự hiện hữu của những người mà nỗi đau và bước đi của họ đã làm thành những bài thơ tuyệt tác. Câu chuyện mà tôi sắp kể ra đây nói về một cuộc đời, mà với tôi, cuộc đời của y giống như một bài thơ diễm tuyệt. Y chính là sư huynh của tôi, vị sư huynh mà giờ đây tôi rất mực tôn kính, tuy trước đó tôi vẫn luôn coi thường, và tự sâu thẳm trong lòng có phần khinh bỉ nữa.

    Y tên là Vô Biên, một cái tên vốn đã dễ bị ngộ nhận. Huynh đệ chúng tôi còn tặng thêm cho y một chữ “tham” trước cái tên của y; và hay gọi đùa là sư huynh  “Tham Vô Biên”.

    Quả thật y rất tham: tham công, tham việc, tham học, tham thiền và nhất là tham… tiền. Tiền thì phần đông cuộc đời này ai cũng tham, vì tiền đem đến rất nhiều thứ. Người ta thường nói rằng: “Có tiền mua tiên cũng được”. Điều ấy cũng có lẽ cũng là một chân lý cuộc đời! Nhưng ấy là cuộc đời, bản chất của cuộc đời là luôn luôn thoả mãn ái dục. Còn chúng tôi là những người đã xuất gia tu hành, muốn đạt được sự lợi lạc tinh thần – sự an lạc ấy chắc chắn tiền không bao giờ mua được – thì phải biết từ khước mọi phiền luỵ trói buộc của thế gian, để dễ dàng hướng đến mục đích giác ngộ giải thoát cao cả. Vậy mà y thì tìm mọi cách để tích luỹ từng đồng, hỏi sao mà chẳng đáng khinh?

    Trước đây năm năm thì khác, lúc ấy ai cũng khen ngợi y, lấy y làm tấm gương để noi theo. Bởi bản chất y rất hiền, siêng năng công việc và luôn tinh tấn tu tập. Đời sống trong tu viện thường ít nói, chỉ nhìn vào hành động của mỗi cá nhân; mà cũng phải thôi, chính sự kiện là lời nói minh bạch nhất.

    Chùa chúng tôi cách xa phố thị, nằm trên một ngọn núi cao ngất ngưởng, bốn mùa có mây bay thật thấp. Diện tích chùa hơn một trăm mẫu ta. Toàn bộ núi đồi đã được trồng thành rừng. Địa thế rất lý tưởng cho đời sông tu hành vốn cần nhiều yên tĩnh. Ở cái thời đại văn minh máy móc này, chuyện ẩn sĩ, chuyện luyện công, chuyện đàm đạo thơ văn và triết lý, chuyện khổ hạnh “đầu-đà chân đất”, chuyện nhập thất thiền định, chuyện nhịn ăn hai, ba mươi ngày để chữa bệnh hay tập thở khí trời… là những chuyện mà người ta cứ ngỡ chỉ có trong truyện hay phim kiếm hiệp. Ấy mà những chuyện ấy là những chuyện thường xuyên trong chùa chúng tôi.

    Sư phụ chúng tôi là một người rất ít nói nên mỗi lời người nói ra là chúng tôi tôn trọng tuyệt đối. Không hiểu Vô Biên đã nói gì với sư phụ mà có một lần họp đại chúng, sư phụ đã nói với chúng tôi:

    - Từ nay trở đi, thầy cho phép Vô Biên được giành thời gian canh tác đám đất trống phía sau hồ.

    Bắt đầu từ đó, mọi người thấy Vô Biên thay đổi hẳn. Y dường như để hết công việc và tâm trí cho việc làm vườn. Sáng, trưa, chiều… lúc nào y cũng có mặt ngoài vườn. Sau mấy tháng làm việc quần quật, đám đất kia giờ đã tinh tươm, sạch cỏ v à xuất hiện một giàn che lưới thật lớn . Lúc cái giàn che đã hoàn tất thì y th ường đi vào rừng, ba lô trên vai, gậy và dây trên tay,y len lõi vào rừng sâu, để tìm cho được những giò phong lan hoang dã.. Hình ảnh một nhà sư lam lũ đi rừng, chúng tôi thấy thật khó coi, vậy mà y vẫn nhẫn nại một cách bình thản.Thỉnh thoảng Y đem theo lương thực đi vào rừng suốt cả tuần, khi quay về chúng tôi thấy y bị thương tích đầy mình nhưng trông y vẫn vui vẻ vì đem về được nhiều giống phong lan quý hiếm. Thời gian đầu, thấy y quá vất vả, các huynh đệ thường giúp y một tay trong công việc chăm sóc phong lan. Nhưng công việc của y quá mất thời gian nên dần dần mọi người rút lui, để cho y tự làm một mình. Cũng đúng thôi, bởi mục đích của chúng tôi đến đây là để tu tập chứ đâu phải để trở thành một nông dân thực thụ như thế.

    Khi Vô Biên đi Đà Lạt và đem về mấy trăm giò phong lan rừng thì mọi người mới vỡ lẽ ra là y quyết chí trồng phong lan. Sau này chúng tôi được biết số tiền mua cây giống ấy chính sư phụ đã cho y.

    Nhân nào quả nấy - ấy là một định luật tất yếu. Nhờ sự siêng năng cần mẫn? Hay nhờ tấm lòng của y? Chắc là nhờ cả hai nên vườn hoa phong lan của y xanh tươi vùn vụt. Y đọc đủ loại sách về hoa phong lan rồi mày mò cho thụ phấn và lai giống. Một năm sau, hoa phong lan của y đua nhau nở rộ. Những giò phong lan rừng y trồng nở to cao như hoa phong lan nước ngoài vậy. Hoa rất nhiềuchủng loại và màu sắc, một lần tôi đếm thử có hơn cả trăm loài. Người ta nói rằng ở Huế, y là người trồng hoa phong lan đầu tiên thành công đến vậy. Vườn phong lan lộng lẫy và đẹp như một bức tranh tuyệt mỹ. Ngắm nhìn hoa phong lan, tôi cảm thấy không ngoa khi người đời tôn vinh nó là loài hoa vương dã.

     Chẳng mấy chốc mà vườn phong lan của chùa chúng tôi đã nức tiếng gần xa. Những người yêu hoa từ dưới thành thị kéo lên xem nườm nượp. Du khách đến đây đều nhìn chúng tôi với đôi mắt thán phục. Hương sắc vườn lan đã thơm lây sang cả chúng tôi.

    Cái đẹp - tự thân nó đã là một triết lý. Nên cảm nhận cái đẹp và sở hữu cái đẹp là điều mà ai cũng muốn. Người ta thường lên chùa mua hoa của Vô Biên. Đám cưới, tiệc tùng hay bất cứ một cuộc lễ sang trọng nào người ta cũng đều lặn lội lên đây mua cho bằng được hoa phong lan cắt cành của y để trang hoàng và cũng để chứng tỏ vẻ sành điệu. Y thản nhiên bán và tính tiền một cách sòng phẳng. Y thuê một người ở dưới làng lên làm công cho y, giờ y đã có người giúp chăm bón và cắt tỉa. Một cửa hàng hoa danh tiếng dưới phố đã hợp đồng mua hoa lan cắt cành của y với giá khá cao. Y suy tính có lợi bèn đồng ý.

    Cuộc đời không bao giờ bằng phẳng, vì bản chất của cuộc đời là vô thường. Thiên nhiên vốn dịu hiền với mọi loài nhưng đôi khi trở chứng, thiên nhiên cũng chứng tỏ sức mạnh độc tài của nó. Trong một cơn mưa đá thình lình, toàn bộ vườn lan đang tươi thắm bị bầm dập thê thảm. Những nụ non xinh xinh, những búp hoa kiều diễm, những màu sắc mang dáng vẻ thanh tao… đều bị bàn tay lạnh lùng của tạo hoá ném đá tả tơi. Tuy không phải chính mình là người trồng vườn hoa ấy nhưng cảnh tàn phá kia ai thấy cũng đau lòng.

    Chính kinh nghiệm của sự thất bại chứ không phải ai khác là người thầy tốt nhất giúp chúng ta đi qua mỗi chặng đường, dù đôi khi thất bại tưởng chừng như đè bẹp ý chí của chúng ta. Sau nỗi buồn thấm thía ấy, Vô Biên gượng lại rất nhanh. Nhờ có sẵn số tiền bán hoa bấy lâu, y mua rất nhiều bạt ni-lông về làm giàn che mưa cho vườn lan của y. Chúng tôi đều ra vườn giúp y một tay, người đi chặt cây, người thì giăng đây… và rồi cái giàn che mưa cũng hoàn tất. Bây giờ, nhìn vườn lan của y trông thật đồ sộ, có vẻ rất chuyên nghiệp.

    Không khí trên núi cao như rất thích hợp với phong lan, một phần Vô Biên không tiếc tiền mua nhiều loại phân đặt chủng ngoại quốc nên năm sau lan của y lại nở rộ. Du khách lại đến tham quan với sự ngưỡng mộ. Hợp đồng bán hoa trước kia giờ được tiếp nối. Mỗi tháng, y cắt được cả ngàn cành lan. Người ta đem xe lên tận chùa lấy hoa. Từ đây, y cứ thong dong mà nhận tiền.

    Nếu không xảy ra vụ mất trộm thì chúng tôi không ai nghĩ Vô Biên nhiều tiền đến thế. Buổi sáng, chúng tôi đang ngồi uống trà với sư phụ thì y xuống báo tin:

    - Hôm qua, có kẻ trộm cạy cốc con và đã lấy hết số tiền bấy lâu con dành dụm.

     Thầy trầm ngâm. Chúng tôi ngơ ngác. Không biết tay đạo chích nào mà cao thủ như thế - chọn đúng cốc của Vô Biên, chứ cốc chúng tôi có lẻn vào thì gặp toàn là kinh sách. Trong ngôi chùa này, mỗi chúng tôi đều ở riêng một cốc nhỏ để tiện cho việc độc cư thiền định. Không gian chùa rất rộng, mỗi cốc đều cách nhau khá xa, xung quanh là rừng nên rất khó phát hiện được kẻ gian đột nhập. Cốc nào cũng có khoá riêng; nói thì nói vậy chứ cốc làm bằng tranh tre, không cần cạy khoá mà khoét vách cũng rất dễ dàng. Năm nào, chùa cũng xảy ra vài vụ mất trộm, lúc thì máy cassette, lúc thì mấy trăm ngàn…

    Thầy nhìn Vô Biên với ánh mắt cảm thông:

    - Con bị mất bao nhiêu?

    - Dạ bạch thầy, đúng mười triệu.

    - Con có biết mất vào lúc nào không?

    - Dạ khoảng từ sáu đến tám giờ tối. Lúc đó, con xuống công phu dưới chánh điện. Khi trở về thì thấy cửa sổ mở và phát hiện gói tiền đã mất.

    - Con có nghi cho ai không?

    - Bạch thầy, trong chùa mình thì không. Nhưng con nghi thằng Bợm dưới làng. Chiều qua, con thấy nó lởn vởn trước chùa mình.

    - Dạ đúng đó thầy. Chiều qua, con đi học về cũng nhìn thấy thằng Bợm đi lên chùa mình - Một vị sự đệ trẻ khẳng định.

    Mọi người đưa ra ý kiến là nên báo cảnh sát để họ điều tra. Nhưng Vô Biên từ chối vì ngại phiền đến huynh đệ. Lý do đưa ra là khi cảnh sát điều tra thì họ sẽ làm việc từ trong nội bộ trước; hơn nữa y cũng chưa dám khẳng định có phải là thằng Bợm lấy hay không. Lỡ không phải thì tội cho nó. Y xin thầy cho y xuống núi để điều tra. Sư đệ Vô Ngại tình nguyện lấy xe chở y đi.

    Y cùng Vô Ngại đi suốt ngày. Mọi huynh đệ đều sốt ruột chờ xem kết quả. Đến tối khuya, họ mới về. Đến hôm sau, y ra vườn tưới hoa và không nói gì cả. Vô Ngại kể cho thầy và chúng tôi nghe đầu đuôi câu chuyện.

    - Bạch thầy cùng các sư! Hôm qua, con chờ sư huynh Vô Biên xuống làng tìm nhà thằng Bợm. Mất cả tiếng đồng hồ tìm kiếm, tới nơi thì nhà nó không có ai. Đứa nhỏ hàng xóm bảo là nó đi đâu từ sớm. Sư huynh dò hỏi những người xung quanh; rồi con chở sư huynh đi khắp những nơi mà người ta nói nó hay lui tới. Đến chiều mà vẫn chưa gặp được nó. Chúng con có trở lại nhà nó ba lần mà nó cũng chưa về. Đến tối, trở lại thì gặp nó đang tắm nơi cái giếng trước nhà. Thấy sư huynh con vào, mặt nó tái mét không còn giọt máu. Lúc đó, con linh cảm biết chắc nó là thủ phạm. Sư huynh tế nhị gọi nó ra một chỗ vắng rồi nói:

    “- Hôm qua, sư bị mất tiền… Dấu chân của kẻ đột nhập vẫn còn nguyên trên cốc. Chiều hôm qua, chính mắt sư trông thấy con và có người khác cũng trông thấy con đi lên lẻn vào sau núi. Bây giờ, sư hỏi một tiếng, nếu con không nhận thì sư lập tức đi báo cảnh sát hình sự. Họ sẽ lấy dấu tay rồi điều tra, chắc chắn sẽ ra ngay. Dĩ nhiên, lúc ấy, sư không thể nào can thiệp được mà để cho họ xử lý kẻ trộm theo pháp luật.”

    Lúc đó, con chen vào một câu hù dọa, Vô Ngại lại kể:

    “- Sư huynh đứng đây làm việc với nó, để đệ ra gọi cảnh sát, họ sẽ lên liền.”

    Sư huynh cản con lại:

    “- Có gì hãy từ từ, nếu nó có tâm hối hận thì mình mở cho nó một con đường.”

    Rồi sư huynh nói với nó:

    “- Mấy lần trước con ăn trộm trên chùa, sư cũng đã tha cho con. Bây giờ, sư chỉ cần con trả lời, có lấy hoặc không. Nếu con có lấy thì sư hứa sẽ tha cho con một lần nữa; còn nếu con bảo không thì chúng ta chẳng còn gì để nói nữa. Sư sẽ báo cảnh sát ngay lập tức.”

    Lời của sư huynh thật chân thành nhưng cũng toát lên vẻ nghiêm khắc, dường như đã làm nó sợ hãi.

    “- Bạch sư, con lỡ dại. Xin sư tha cho con. Đừng báo cảnh sát mà họ bắt con đi ở tù. Con sợ lắm.” - Giọng nói của nó run rẩy.

    “- Vậy thì hãy trả lại tiền cho sư.”

    “- Thưa sư, con lỡ xài một số rồi. Giờ chỉ còn lại ba triệu.”

    Lúc ấy, con chợt nổi nóng lên, chụp cổ áo nó rồi gằn giọng – Vô Ngại vừa kể vừa đưa tay diễn tả:

    “- Mày nói sao? Mới có một ngày một đêm mà mày “lỡ” xài hết bảy triệu hả? Mày biết chừng đó tiền, sư huynh của ta phải tốn bao nhiêu thời gian và công sức không?”

    Sư huynh gỡ tay con ra khỏi nó, rồi từ tốn bảo với con:

    “- Thôi sư đệ. Lấy lại được chừng đó còn hơn là mất sạch.”

    Quay qua thằng Bợm, sư huynh nói với nó, mềm mỏng như là đang thuyết pháp vậy:

    “- Từ nay trở đi, con đừng bao giờ lên chùa ăn cắp nữa nhé! Người ta cúng dường đến Tam Bảo không hết; con lại đi ăn cắp như thế này, tội nặng lắm đó, biết chưa?”

    “- Dạ... dạ… Xin sư chờ con. Để con vào nhà lấy tiền trả lại.”

    Nó quay lưng đi nhanh vào nhà. Chúng con đều lắc đầu ngán ngẫm.

    Vô Ngại càm ràm: “Đã bao lần nó lên chùa mình ăn cắp, mấy sư cứ tha cho nó hoài. Bữa nó lấy thùng phước sương, mọi người mà nghe lời con, giao cho cảnh sát thì bây giờ đâu có chuyện gì.”

    Một lát sau, nó bước vội về phía chúng con. Có tiếng ồn ào lao xao vọng ra từ trong nhà nó.

    “- Bạch sư, đây, con xin trả lại cho sư. Số còn lại khi nào có, con sẽ trả sư sau.”

    “- Thôi được rồi. Không cần con phải trả. Cứ xem như là sư cho con. Sư chỉ mong rằng con đừng bao giờ trộm cắp nữa, mà phải biết làm ăn đàng hoàng.”

    Chúng con để nó đứng lặng ở đó, đi vào phía trước sân để lấy xe quay về. Chợt có tiếng phụ nữ tru tréo. Rồi một người đàn ông, tay cầm cây cuốc, hùng hổ chạy tới chúng con, la lớn:

    “- Mẹ kiếp! Mấy thầy ác quá! Mẹ nó mới đi mổ về. Mấy thầy lấy hết tiền vậy chắc thế nào mẹ nó cũng chết. Mà chắc gì tiền đó là của mấy thầy?”

    Lúc đó, con thật bức xúc, cơn sân dâng lên nghẹn ngào, không nói gì được. Sư huynh thì bình tĩnh hỏi người đàn ông:

    “- Vậy ra, mẹ của Bợm đang bệnh hả? Bợm nó nói gì khi đem tiền về cho chú?”

    “- Mẹ nó đau gan, nằm bệnh viện mấy tháng nay, mới mổ tuần trước. Hôm nay, bác sĩ cho xuất viện, về nhà điều trị. Hôm qua, thằng Bợm đem tiền xuống thanh toán và mua thuốc cho mẹ nó. Nó kể là nó lượm được gói tiền của một chiếc xe chạy ngang qua. Giờ, mấy thầy xuống đòi nó trả lại. Vậy là mấy thầy ép tui phải liều đó. Mà lấy gì làm bằng chứng là tiền đó của mấy thầy?” - Vừa nói, gã vừa rung rung cây cuốc ra vẻ hù dọa.

    Thằng Bợm ở ngoài chạy vội đến người đàn ông, dang tay ôm gã lại, rồi nói:

    “- Đừng ba! Tiền đó là của mấy sư thật. Mấy sư đã cho mình số tiền lỡ xài rồi. Trả lại cho quý sư là phải lẽ. Mai, mình đem cầm nhà lo cho mẹ cũng được mà.”

    Sự việc đột ngột thay đổi. Sư huynh đưa gói tiền đang cầm trên tay cho thằng Bợm và nói khẽ:

    “- Cầm lấy. Đây coi như là sự giúp đỡ của quý sư. Hãy lo cho mẹ con. Cầu hồng ân Tam Bảo gia hộ cho bà sớm bình phục.”

    Sư huynh quay qua bảo con:

    “- Mình lên núi thôi sư đệ.”

    Chúng con lên xe. Chợt nghe có tiếng cười gằn của người đàn ông nọ…

    Thầy và quý sư biết không? Con tức quá! Không phải vì số tiền mà vì cách đối xử của họ. Chở sư huynh đi ra một đoạn khá xa, con dừng xe lại, bảo sư huynh đứng đó chờ con, vì con để quên cuốn vở nơi cái giếng. Sư huynh xuống đứng chờ; con chạy thẳng tới nhà thằng Bợm, gọi người đàn ông dữ ấy ra gặp:

    “-Ông có biết số tiền mười triệu đó, sư huynh của tôi phải mất thời gian hai năm và rất nhiều công sức không? Ông có biết thằng Bợm con ông hôm qua lên chùa lấy trộm số tiền đó không? Và ông có biết cỡ ông, với cây cuốc trên tay, vẫn không đỡ nổi một chiêu của sư huynh tôi không?”

    Con định làm thêm một trận nữa cho hả dạ, nhưng thấy ông ta há mồm ngạc nhiên, nên thôi, quay xe ra và đón sư huynh lên núi.

    Đó là toàn bộ câu chuyện hôm qua – Vô Ngại chắp tay hướng về thầy và chúng tôi cúi đầu khi kết thúc câu chuyện.

    Chúng tôi lặng lẽ ngồi thật lâu, nghe một cái gì rất diệu vợi dâng lên trong lòng. Câu chuyện vừa được kể nghe sâu lắng quá. Ngoài hiên, những tia nắng chiếu trên thân trúc, long lanh như những giọt nước. Gió ngừng thổi. Rừng dường như không còn lao xao với lá.

    Thời gian êm ả trôi. Bốn mùa an nhiên tiếp nối. Chúng tôi vẫn tiếp tục cuộc hành trình mà mình đã chọn. Vô Biên cũng vậy. Ngoài những giờ công phu cùng đại chúng, y vẫn giành hết thời gian còn lại cho việc chăm sóc vườn hoa lan của mình. Sau sự kiện mất trộm ấy, chúng tôi đã nhìn y với ánh mắt thiện cảm nhiều hơn. Thỉnh thoảng chúng tôi ra vườn phụ giúp cho y. Có đôi khi cao hứng, y chỉ cho chúng tôi biết nhiều màu xanh khác nhau của lá. Y nói cho chúng tôi nghe về hoa lan, về cách chăm sóc… Y bảo, hoa lan có rất nhiều loài,có loài lan hoa nhỏ như hạt thóc nhưng cũng có loài lan hoa to cả mét,có loài thì hương thơm dịu dàng có loài thì chỉ có sắc chứ không hương . Nghe y đọc mấy câu thơ “ hoa phong lan giống loài tao nhã,cốt cách thanh cao giữa cõi trần,hớp khí hạo nhiên dòng quân tử,toả hương dịu dàng tặng thế nhân” chúng tôi cứ tưởng như phong lan là bậc ẩn sĩ cao quý lắm vậy.Y còn bảo hoa lan cũng giống như người vậy. Có những cái duyên bên ngoài tác động đến sự phát triển hay làm hư hoại hoa. Những tác duyên nào xấu thì cần phải ngăn chặn. Y còn nói gì gì đó về việc đúng tiết đúng thời, hoa nở rồi hoa tàn… Nghe y nói về hoa phong lan mà chúng tôi tưởng như y đang nói về Đạo, về Pháp…

    Cuộc đời luôn thay đổi nhưng cũng rất công bằng với địng luật bù trừ của nó. Hai năm liền mưa gió thuận hoà. Mùa thu se lạnh và kéo dài cái lạnh đến hết mùa xuân khiến cho vườn phong lan của y xanh tốt đến kỳ lạ. Hoa ra vùn vụt. tháng nào, y cũng có hoa bán cho người ta. Chúng tôi thường gọi đùa y là một “Phú Tăng”. Y vẫn nhẫn nại trước những lời châm chọc ấy. Dù rất có thiện cảm với y nhưng chúng tôi không thể đồng ý với chuyện y quá tham tiền. Không hiểu y quá tham tiền để làm gì? Con đường xuất gia tu tập thì càng ít sở hữu càng hạnh phúc. Vô lẽ y lại không hiểu điều đó?

    Rồi mọi chuyện cũng được sáng rõ. Khi hiểu được lý do cần tiền của Vô Biên, sự kính phục của chúng tôi đối với y lại tăng thêm thật nhiều.

    Hôm đó, sau khi tụng kinh xong, chúng tôi ngồi lặng lẽ bên thầy. Mùi trầm hương thoang thoảng… Thầy nhẹ nhàng nói:

    - Trước đây, thầy cho phép sư Vô Biên được quyền canh tác riêng, bởi đó là nguyện vọng của sư ấy. Thầy xét nguyện vọng ấy cũng tốt; nhưng đối với thầy có cái còn tốt hơn là thử xem ý chí, nghị lực của Vô Biên ra sao? Bây giờ, sau năm năm, thầy vui mừng thấy Vô Biên đã kiên định với mục đích của mình.

    Quay sang Vô Biên, thầy nói tiếp:

    - Thầy có lời khen ngợi và chúc mừng con. Vô Biên, bây giờ con hãy nói đi, nói cho đại chúng cùng hiểu.

    Vô Biên quỳ lên, hướng về thầy và đại chúng đảnh lễ, giọng y nhỏ nhẹ:

    - Kính bạch thầy! Kính bạch Đại Đức Tăng! Vì sợ ý nguyện của mình thực hiện không nổi nên lâu nay con không dám cho đại chúng rõ. Nhờ hồng ân Tam Bảo, đến nay phương tiện đã chuẩn bị xong, con xin được tác bạch. Sở dĩ lâu nay, con chăm chỉ làm việc kiếm tiền là để thực hiện ước mơ được một lần hành hương về xứ Phật. Do cần một số tiền lộ phí quá lớn nên con phải làm việc cật lực, đôi khi bê trễ việc tu tập và làm ảnh hưởng đến đại chúng. Cúi xin chư huynh đệ xá tội lỗi ấy cho con.

    Vô Biên nói xong, y cung kính lạy xuống ba lạy. Cả hội chúng ngơ ngẩn như xuất thần. Không khí bên trong chánh điện ngập tràn niềm xúc động. Hành hương xứ Phật, chiêm bái “tứ động tâm” là một niềm ao ước của tất cả tu sĩ thuộc vùng biện địa như chúng tôi. Được đến tận nơi đức Bồ-tát đản sanh, nơi đức Phật thành đạo, nơi ngài Chuyển Pháp Luân và nơi ngài Niết-bàn là một điều chỉ có trong mơ ước. Trong kinh, chính đức Phật cũng đã dạy, ai mà đến chiêm bái “tứ động tâm” sẽ tăng thêm tín tâm; và trên đường hành hương với tín tâm trong sạch như thế, nếu mệnh chung sẽ lập tức sanh về cõi trời. Từ đây qua Ấn Độ quá xa xôi cách trở, nội tiền vé máy bay cũng đã mất cả chục triệu đồng, thành thử chúng tôi không bao giờ dám nghĩ là mình sẽ có tiền để đến vùng đất Phật. Vậy mà Vô Biên dám biến ước mơ thành hành động. Thật đáng khâm phục!

    Đại chúng im phăng phắc. Mỗi người như theo đuổi mỗi ý nghĩ riêng của mình. Thầy mỉm cười bảo:

    - Ngày mai, Vô Biên đã đi rồi đó. Các con cứ tâm sự với nhau.

    Nói xong, thầy rời chánh điện. Chúng tôi quây quần bên nhau. Vô Ngại là người lên tiếng trước:

    - Sư huynh, khi nào sư huynh đến chỗ Bồ-đề đạo tràng, nhớ thắp cho đệ một ngọn đèn trí tuệ cúng dường lên Đức Phật nhé, để cho đệ sớm có trí tuệ giải thoát. À, mà sư huynh nên thắp đèn trí tuệ cho tất cả mọi người trong chùa mình, chứ một mình đệ giải thoát trước thì buồn quá.

    Nói xong, Vô Ngại nhìn chúng tôi cười khúc khích, làm ai cũng phì cười.

    - Được rồi. Đến nơi, huynh sẽ thắp ba mươi cây cho tất cả mọi người.

    - Nghe nói, gần vườn Lumbini, có một tộc người họ Thích sống. Đó là những người có dòng họ với Đức Phật của chúng ta. Sư huynh nhớ đến thăm và chụp ảnh họ đem về đây nhé?

    - Ừ.

    - Sư huynh nhớ đem đất ở bốn chỗ “động tâm” về chùa mình thờ nghe sư huynh?

    - Đúng đó.

    - Ừ… ừ…

    Tối hôm đó thật vui. Bao nhiêu điều ước của chúng tôi gởi cho y đem đi Ấn Độ, y đều hoan hỷ nhận lời.

    Sáng hôm sau, điểm tâm xong, chờ cho y lên đảnh lễ sư phụ xong, tất cả chúng tôi đều đưa tiễn y xuống hết dốc núi với thật nhiều lời dặn dò. Sư đệ Vô Ngại là người có vinh dự dùng xe máy của chùa chở y xuống núi, chờ ngày mai bay vào Sài Gòn để xin thị thực nhập cảnh và đăng ký chuyến bay.

    Niềm hoan hỷ về chuyện hành hương của Vô Biên rồi cũng lắng xuống. Chúng tôi phải trở về để sống với cái đang hiện tiền. Nội dung của toàn bộ đời sống tu tập là làm sao để luôn luôn hạnh phúc và đối diện với thực tại đang là. Dĩ nhiên là rất khó duy trì được tâm sáng suốt trong mọi lúc, nhưng nếu biết nỗ lực đúng cách thì những vọng niệm dấy động mỗi ngày càng bớt đi.

    Thật bất ngờ khi hai hôm sau, Vô Biên trở về. Khi ấy, chúng tôi đang ngồi uống trà buổi sáng với sư phụ. Y lên chào thầy. Để cho y đảnh lễ xong, thầy hỏi có vẻ ngạc nhiên:

    - Ủa, sao con lại quay về? Thầy tưởng hôm nay con đã ở Sài Gòn rồi chứ?

    - Bạch thầy, con chưa đi được. Có lẽ chưa đủ nhân duyên…

    Y trả lời thầy chỉ có vậy, rồi xin phép lui về cốc. Mọi người thật khó hiểu. Tính y vốn đã ít nói mà sư phụ lại càng ít nói hơn. Nếu lúc đó, sư phụ hỏi nguyên nhân thì chúng tôi khỏi mất công suy nghĩ. Mấy ngày tiếp đó, tôi nghĩ mãi mà chẳng hiểu vì sao y lại quay về. Có lẽ cuộc đời này không ai hiểu được ai. Vì con người là một thực thể cô đơn tuyệt đối. Những nhân cách lớn thì hành tung của họ càng khó hiểu hơn nữa.

    Một tuần sau, mọi chuyện tưởng chừng như đã lắng xuống. Bỗng nhiên, hôm đó, sau giờ công phu, thầy bảo đại chúng ngồi lại một lát. Thầy lấy ra một phong thư, rồi nói:

    - Vô Ngại, con đọc đi. Đây là lý do mà Vô Biên không đi Ấn Độ. Thầy rất mừng là Vô Biên đã làm được một việc có ý nghĩa.

    Vô Ngại chậm rãi đọc lớn:

    - “Nam mô Bổn sư Thích ca Mâu Ni Phật

    Kính gởi: Hoà thượng trụ trì và Chư Tăng chùa Hư Vô

    Trong lúc chúng tôi đang gặp khó khăn về nguồn thuốc ngoại nhập để điều trị cho những bệnh nhân nhiễm HIV thì nhận được số tiền năm ngàn USD của Chư Tăng do sư Vô Biên đại diện gởi tặng. Số tiền ấy đã giúp chúng tôi kịp thời xoa dịu nỗi đau thiếu thuốc của những bệnh nhân.

    Thay mặt Ban Giám đốc điều hành, thay mặt những bệnh nhân nhiễm HIV, chúng tôi xin trân trọng tri ân tấm long hào hiệp của quý vị. Cầu chúc quý vị có nhiều sức khoẻ để luôn làm lợi lạc cho quần sanh.

    Ký tên,

    Giám đốc Trung tâm Từ thiện Y tế TT-Huế”

    Vô Ngại đọc xong, xếp lại lá thư rồi im lặng. Cả đại chúng cũng ngồi yên lặng. Ngoài trời, tiếng côn trùng chợt lặng yên. Không gian và thời gian như dừng lại.

    Lâng lâng cảm xúc, chúng tôi đều ngưỡng mộ tấm lòng cao cả của sư huynh “Tham Vô Biên”.

    Sáng hôm nay, bầu trời thật đẹp. Mặt trời đỏ rực ngự trên đỉnh núi. Sườn núi ửng đỏ, toát lên vẻ uy nghi rực rỡ. Thiên nhiên bao giờ cũng đẹp hơn tranh vẽ. Giờ này, chắc sư huynh Vô Biên đã ra vườn với chú giới tử Vô Dư – chú Vô Dư này là thằng Bợm thuở trước. Sau khi mẹ nó qua đời, như tỉnh ngộ, nó lên đây xin thầy xuất gia. Thấy tội, thầy nhận và giao nó phụ giúp công việc với sư huynh Vô Biên để tích chút công quả.

    Tôi phải dừng câu chuyện ở đây thôi. Bởi còn phải tranh thủ ra phụ giúp với sư huynh của tôi trồng mấy loại hồng mới nhập về. Tối qua, chúng tôi đã thoả thuận, từ nay tôi sẽ phụ giúp với sư huynh chăm sóc vườn hoa, chờ dành đủ số tiền, tôi sẽ tháp tùng theo sư huynh hành hương xứ Phật. Hy vọng sớm đủ duyên lành để chúng tôi được thoả mãn ước nguyện. Mặc dù, hôm kia, Vô Biên đã nói nhỏ với tôi: “Chúng ta làm việc để phụng sự, làm việc với tâm rỗng rang, mát mẻ như thế này là chúng ta đã không “thường trực hành hương” xứ Phật rồi hay sao?”     

     “- Ôi! Sư huynh Tham Vô Biên của tôi!”

    CH.

     

     

     

     


     

    PHẬT GIÁO THỜI NHÀ LÝ-NIỀM TỰ HÀO DÂN TỘC

    Chơn Hữu

     

    Lịch sử luôn là những bài học quý giá và mãi mãi là tấm gương cho hiện tại. Tiếp cận Phật giáo bằng phương pháp sử quan, chúng ta sẽ nhận thấy Phật giáo là một hệ thống tư tưởng tích cực, nhìn thẳng vào những vấn đề bức xúc nhất của vận mệnh dân tộc, và đã giải quyết những vấn đề ấy theo phương cách tốt nhất. Nhìn lại suốt chiều dài lịch sử, ta sẽ thấy rằng Phật giáo Việt Nam đã luôn sát cánh với dân tộc trong những lúc thăng trầm cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước. Trong phạm vi giới hạn, bài viết này chỉ trình bày khái quát một vài điểm son của lịch sử Phật giáo ở triều đại nhà Lý - triều đại tiêu biểu nhất mở đầu cho một công cuộc kiến thiết quốc gia độc lập, tự chủ.

    Để thấy rõ vai trò quan trọng và những đóng góp tích cực về nhiều mặt của Phật giáo trong việc xây dựng nền chủ quyền và phát triển đất nước một cách đáng tự hào ở triều đại nhà Lý, trước hết, ta điểm qua vài nét bối cảnh lịch sử đất nước trong giai đoạn trước và sau nhà Lý thành lập.

    Từ thuở Hùng Vương, đất nước chúng ta đã phải chịu rất nhiều cuộc áp bức vô cùng tàn bạo và đau đớn của người phương Bắc. Nhưng với tinh thần bất khuất, đất nước ta đã xuất sinh những anh hùng hào kiệt kiên cường mà ngày nay dân tộc Việt Nam có quyền tự hào và hãnh diện bởi chí khí oai hùng của cha ông mình.

    Với chiến thắng Bạch Đằng lừng lẫy năm 938, Ngô Quyền xưng vương, thành lập một quốc gia độc lập, đóng đô ở Cổ Loa. Dân tộc ta bên trong đã dẹp yên được nghịch thần, bên ngoài đã phá tan được cường địch, anh dũng chặt đứt xiềng xích nô lệ đầy tủi nhục kéo dài hơn ngàn năm Bắc thuộc. Nhưng vừa thoát khỏi nạn ngoại thuộc thì dân ta lại phải đương đầu với một loạt những quốc nạn khác. Người anh hùng dân tộc Ngô Quyền chỉ trị vì được sáu năm rồi mất năm 944. Từ đó xảy ra nạn Thập nhị sứ quân, tranh giành xâu xé, tạo ta cảnh nồi da xáo thịt, huynh đệ tương tàn kéo dài suốt 20 năm (945 – 967), đã gây ra không biết bao nhiêu tổn thất về nhân mạng và tài sản, đẩy nhân dân đến chỗ lầm than, cơ cực tận cùng. Mãi đến năm 968, Đinh Bộ Lĩnh mới phất cao ngọn cờ vạn thắng, đánh tan tất cả sứ quân, khôi phục hoà bình và thống nhất cho đất nước. Nhưng chỉ được 3 năm, Đinh Bộ Lĩnh và con trưởng Đinh Liễn bị ám sát chết (980); đế quốc Trung Hoa lại ồ ạt xâm lăng nước ta. Lúc bấy giờ, người anh hùng cứu quốc Lê Hoàn xuất hiện, dẫn đạo hùng binh ra trận, thần tốc đánh tan quân xâm lược nhà Tống (980), mở đầu cho kỷ nguyên Đại Việt. Tưởng đâu đất nước đã được yên bình sau hai mươi năm nội chiến và cuộc kháng chiến oai hùng với giặc cướp ngoại xâm Trung Hoa, nhưng giông bão vẫn tiếp tục phủ xuống, nghịch cảnh vẫn chưa ngừng buông tha. Vị minh quân Lê Đại Hành là người anh hùng cứu quốc, ông mất vào tháng 3 năm 1005. Khi vua cha vừa nằm xuống thì các con kịch liệt tranh nhau ngôi báu, mãi đến tháng mười năm 1005, Lê Long Việt lên nối ngôi. Đăng quang mới được ba ngày, Lê Long Việt bị người em là Lê Long Đỉnh cho người ám sát rồi cướp ngôi. Lúc này triều thần sợ hãi chạy tán loạn, duy chỉ có Lý Công Uẩn ở lại ôm xác vua Trung Tôn (Lê Long VIệt) mà khóc. Long Đỉnh thấy vậy khen là trung thần nên sau khi lên ngôi liền phong Lý Công Uẩn làm Tả thân vệ Điện tiền chỉ huy sứ. Long Đỉnh là một ông vua hôn mê, rất tàn ác và hoang dâm vô độ, đến đỗi mới hơn hai mươi tuổi đã không ngồi dậy nổi, mỗi khi lâm triều, y phải nằm trên giường nên sử sách, dân gian mỉa mai gọi y là Lê Ngoạ Triều. Bản tính Long Đỉnh cực kỳ tàn bạo và ác độc, sau khi đã gây ra tội ác giết anh cướp ngôi y lại càng tàn bạo hơn.

    Ông vua này lấy việc giết người làm trò chơi thường nhật, có khi y sai lấy mía để trên đầu nhà sư róc vỏ, thỉnh thoảng vờ nhỡ tay bổ dao xuống đầu sư, trông thấy máu chảy như thế vua thích thú vui cười. Long Đỉnh làm vua được bốn năm thì mất, thọ 24 tuổi. Lúc này lòng người đã oán hận lên tận mây xanh. Dưới sự cai trị bạo tàn của Long Đỉnh, nhân dân vô cùng phẫn nộ, căm hờn;lòng người phân ly, đất nước cùng kiệt, tạo mầm mống cho cảnh nội chiến, loạn lạc. Tất cả điều ấy chỉ chực chờ đưa đất nước ta đến một thảm hoạ lớn nhất, khốc liệt nhất – là đất nước sẽ về tay quân xâm lược phương Bắc, đưa nhân dân ta trở lại thời kinh hoàng đầy tủi nhục, nô lệ ngoại bang. Chế độ độc tài bạo trị của Lê Ngoạ Triều đã đem lại cho đất nước ta cảnh bên trong thì sẽ nội loạn, bên ngoài bị ngoại xâm đe doạ; rõ ràng đó là một quốc nạn, có thể đưa đất nước ta trở lại cảnh khốn cùng, đưa nhân dân ta trở lại thời trâu ngựa của hơn một ngàn năm nô lệ. Trước hoạ nội chiến lớn lao ấy, ai mà không đau lòng!

    Sau đêm dài man rợ, rùng rợn của thời đại Bắc thuộc, sau một thời kỳ loạn lạc suy tàn của ba chế độ pháp trị và bạo trị ngắn ngủi Ngô, Đinh, Lê; tất cả phải được làm lại, tất cả phải được bắt đầu lại. Đó là một sứ mạng của thời đại! Nhưng sự nghiệp khôi phục và xây dựng một quốc gia độc lập và thái bình là một sự nghiệp vĩ đại phải chờ sự xuất hiện của một nhân duyên vĩ đại và một con người vĩ đại mới thành tựu nổi. Đại nhân duyên đó chính là Phật giáo với trí tuệ và tình thương vô lượng cho nhân dân Đại Việt và con người ấy chính là Thiền sư Vạn Hạnh.

    Từ trong lòng những chế độ hà khắc hung dữ của tiên triều, thiền sư Vạn Hạnh xuất hiện, thần tốc vung tay, siêu việt chuyển hoá, dũng mảnh hành hoạt, đem “trụ tích trấn vương kỳ” (dùng gậy của nhà Phật để trấn giữ kinh kỳ của nhà vua), hoàn thành một cuộc cách mạng bất bạo động để đưa Lý Công Uẩn - một Phật tử thấm nhuần tinh thần từ bi, bao dung, nhân bản, khai phóng của đạo Phật – lên nắm chính quyền. Và để rồi từ đó mở ra một phương trời mới cho Đại Việt, từ bạo trị sang đức trị và thăng hoa đất nước từ một xã hội bị kìm kẹp, sắt máu sang một xã hội từ bi, thuần hậu.

    Nếu mưa nắng thuận hoà làm cho mùa màng tươi tốt, cây cối đâm chồi kết trái thì cũng vậy, đạo đức nếu thấm nhuần trong tâm hồn của những nhà lãnh đạo, trong đời sống nhân gian sẽ làm cho xã hội thấm đẫm tình người và làm cho nước nhà đi vào mùa xuân thái hoà, an lạc. Nền đạo đức Phật giáo không những là nền đạo đức để tu dưỡng nội tâm, để đánh thức giải thoát khổ đau cho con người mà còn là một nền đạo đức có tính mỹ học thuần hậu để cải thiện và thăng hoa đời sống xã hội. Chính nền đạo đức có tính nhân bản ấy của đạo Phật chứ không phải nguyên nhân nào khác đã làm cho xã hội Việt Nam thời đại nhà Lý trở nên thuần từ, thái hoà và thịnh trị.

    Triều đại nhà Lý, tám đời vua, trải qua 216 năm là một trong những triều đại mở đầu cho việc xây dựng nền độc lập tự chủ lâu dài của dân tộc, sau hơn một ngàn năm sống trong màn đêm thống trị của phong kiến phương Bắc. Đồng thời cũng là triều đại có tuổi thọ lớn nhất so với các triều đại khác trong dòng lịch sử của đất nước Việt Nam. Các vị vua đều là Phật tử, trị vì một cách nhân từ, khoan dung theo đúng tinh thần Phật giáo. Đạo đức Phật giáo đã thấm nhuần trong lòng dân tộc và xã hội, đạo đức ấy đã trở thành linh hồn của nền chính trị, thành bản chất của mọi chính sách quốc gia, thành chính nghĩa và sự chính thống của chính quyền và chế độ nhà Lý.

    Từ một đất nước loạn lạc trở thành một quốc gia thái bình ổn định lâu dài, chính nhờ các vị vua đã sáng suốt vận dụng nguyên lý nhân bản đạo đức của Phật giáo vào trong lòng xã hội.

    Lịch sử đã ghi nhận, công cuộc xây dựng đất nước hoà bình, thịnh trị trong triều đại nhà Lý thành tựu rực rỡ như thế là bởi nhờ những nhà sư Phật giáo đã tích cực nhập thế, áp dụng những chiến lược sáng suốt để ổn định đất nước, khai sáng một xã hội đức trị huy hoàng của dân tộc. Các thiền sư thời Lý, ngoài vai trò hướng dẫn tâm linh, hoằng dương Phật Pháp, còn là những nhà giáo dục lỗi lạc. Các thiền sư đã góp công dạy bảo người đời, đào tạo những thế hệ tri thức cởi mở, không những thông hiểu Phật pháp mà cả Lão –Nho để có người hiền tài giúp nước, để sống với ý thức trách nhiệm làm người chứ không phải làm quan để mưu cầu danh lợi phú quý. Ngoài Thiền sư Vạn Hạnh, sách Thiền Uyển Tập Anh ghi lại, người theo học với thiền sư Định Hương, thiền sư Mãn Giác, thiền sư Không Lộ… đông đến hàng ngàn người. Họ không chỉ truyền dạy giáo lý nhà Phật mà còn dạy học trò những tri thức về xã hội, định hướng một cuộc cải cách giáo dục phóng khoáng. Mỗi ngôi chùa thời Lý là một diễn đàn, một chốn học đường, số người học không những chỉ thường dân mà còn có cả con em của hoàng gia, quý tộc. Chẳng hạn như Lý Công Uẩn là con nuôi của thiền sư Khánh Văn và thọ giáo với Thiền sư Vạn Hạnh. Tương truyền, thiền sư Vạn Hạnh đã cho lưu truyền bài kệ “thập bát tự thành” giúp Lý Thái Tổ (Lý Công Uẩn) thu phục nhân tâm, đăng quang ngôi vua, dời đô ra Thăng Long xây nền móng phát triển văn hoá Đại Việt. Người kế vị là vua Lý Thái Tông (1028-1054) cũng là một vị minh quân và là đệ tử xuất sắc của thiền sư Thiền Lão. Vua Lý Thánh Tông (1054-1072) thì kính trọng thờ thiền sư Thảo Đường làm thầy, lập nên thiền phái Thảo Đường mang màu sắc dân tộc Việt Nam, nhà vua đã đắc đạo và được truyền tâm pháp, trở thành Tổ thứ hai của dòng thiền Thảo Đường. Vua Lý Nhân Tông (1072-1127), sắc phong thiền sư Khô Đậu làm Quốc sư. Từ năm 1128 đến năm 1125, nhà Lý vẫn thịnh trị và Phật giáo luôn là Quốc giáo. Những vị vua kế tiếp đều phát tâm tu hành theo đạo Phật. Ông vua cuối cùng của nhà Lý là Lý Huệ Tông (1211-1225), vì chán đời sống vương giả, từ bỏ ngai vàng, xuất gia ở chùa Châu Giáo và tự xưng là Huệ Quang Đại Sư. Công chúa Phật Kim tức Lý Chiêu Hoàng lên nối ngôi, sau truyền ngôi cho chồng là Trần Cảnh. Thế là triều đại nhà Lý chấm dứt, triều Trấn bắt đầu và Phật giáo theo đó cũng bước qua một giai đoạn mới.

     Văn học Phật giáo trong thời đại nhà Lý cũng đã ảnh hưởng rất lớn đến xã hội, nhất là về mặt thi ca. Các thiền sư đều là hàng thượng tầng tri thức. Văn thơ của các thiền sư thời Lý còn được lưu giữ trong sách Thiền Uyển Tập Anh và các văn bia. Các nhà Sư Phật giáo luôn thể hiện là mẫu người tài giỏi và hay chữ nhất trong xã hội. Trong 50 thi sĩ thời Lý thì có đến 41 người là Tăng sĩ. Các thiền sư thời đại này là những nhà thơ lỗi lạc. Các áng thơ của các thiền sư đã mang đầy chất liệu sống, bởi các ngài đã thực hiện trong cuộc sống bằng thái độ chứng nghiệm, bằng trí tuệ của Phật pháp. Thơ văn của các thiền sư thời Lý điển nhã, cổ kính, bàng bạc nhiều hình tượng, ngôn ngữ nghệ thuật nên đã thấm sâu vào tâm thức của đông đảo quần chúng trong xã hội. Sáng tác của các thiền sư bộc lộ những cảm xúc thăng hoa của tâm hồn. Văn hoá Phật giáo thời Lý đích thực là những tác phẩm có giá trị nghệ thuật rất cao, như bài kệ “Thân như điện ảnh hữu hoàn vô” của Sư Vạn Hạnh, “Cáo tật thị chúng” của thiền sư Mãn Giác, “Ngôn hoài”“Ngư nhàn” của Không Lộ. Mỗi bài thơ đều có nhiều cảm xúc, nhiều tầng ý nghĩa, là những áng văn bất hủ của một thời. Có nhà nghiên cứu còn nói rằng: “Nếu không có tiếng hú lạnh cả thái hư của Không Lộ thì không có cuộc chiến thắng Bạch Đằng” (Chế Lan Viên). Văn học thời Lý là tinh chất của thiền môn, là trang sử vàng của nền văn học nước ta và cũng chính là sự khẳng định tiếng nói mở đầu cho văn học viết của cả dân tộc.

    Về phương diện nghệ thuật và kiến trúc ở thời Lý, Phật giáo đã đóng góp vào nền mỹ thuật nước ta nhiều công trình kiến trúc, điêu khắc đáng kể, làm hãnh diện cho dân tộc. Phật giáo đã đem vào Việt Nam những kiểu chùa, lầu chuông, gác trống, thác tượng, những lễ phục và thường phục đặc biệt. Những công trình kiến trúc đồ sộ phần nhiều là của nhà chùa, hay nếu không thì cũng chịu ảnh hưởng của đạo Phật, và những công trình ấy đều có sự tham gia đóng góp, tham gia kiến thiết của vị thiền sư.

    Sau khi Lý Công Uẩn lên ngôi và dời đô về Thăng Long, với công việc kiến thiết kinh đô mới, xây dựng những công trình quốc gia tiêu biểu như cung điện, chùa tháp thì chắc chắn có sự khởi xướng hay tham gia tích cực của các thiền sư. Trước hết, đối với thành Thăng Long thì có thể nói chính Thiền sư Vạn Hạnh là kiến trúc sư của toà thành này.Bởi chính Thiền sư Vạn Hạnh vừa là thầy của Lý Công Uẩn vừa là người thuyết phục nhà vua dời dô từ Hoa Lư về Đại La (Thăng Long). Ông Lê Văn Siêu khi nghiên cứu về văn minh Việt Nam đã viết: “Không còn gì để mà nghi ngờ. Nhà kiến trúc sư quan niệm đạo đức rộng rãi và uyên thâm này nhất định phải là thiền sư Vạn Hạnh…” Thời Lý, chùa tháp được xây dựng quy mô và phổ biến rộng rãi như thế nên chắc chắn rằng các thiền sư là những người nắm giữ vai trò kiến trúc. Sử gia Lê Văn Hưu đã nói “Lý Thái Tổ lên ngôi mới được 2 năm, tông miếu chưa dựng, xã tắc chưa lập mà trước đã dựng 8 chùa ở phủ Thiên Đức, lại trùng tu chùa quán ở các lộ…”

    Rồi đến vua Lý Thái Tông cũng noi gương cha mình, công trình nổi bậc nhất là chùa Diên Hựu hay còn gọi là chùa Một Cột. Một công trình độc đáo và táo bạo: toàn thể ngôi chùa đặt trên một cột đá, diễn đạt hình tượng theo hình thể hoa sen, cắm chân ở dưới nước bùn và nhô lên mặt nước như một búp hoa. Chùa Một Cột cũng do một vị Thiền sư thiết kế - Thiền sư Thiện Thệ - vì chính vị Thiền sư này đã khuyên vua xây chùa; và qua hình dáng kiến trúc, nó phảng phất ý niệm “Đức Phật và đài sen”.

    Nhà sử học Lê Văn Hưu khi nhận định đạo Phật thời Lý đã phát biểu: “Xây tháp cao ngất trời, trồng cột chùa đá chạm, chùa Phật lộng lẫy hơn cả cung vua, dân quá nữa là sư sãi, khắp nước chỗ nào cũng chùa chiền…”

    Có thể Lê Văn Hưu muốn nói tới tháp Báo Thiên do vua Lý Thánh Tông cho xây dựng, một trong bốn công trình vĩ đại nhất của thiền gia đời Lý, mà người ta thường gọi là “An Nam tứ đại khí”. Đây là một công trình tương truyền do Thiền sư Không Lộ vẽ kiểu. Đỉnh tháp bằng đồng cũng do vị Thiền sư này đúc với số đồng mà sư đã dùng thần thông lấy được trong kho của vua Tống tại Nam kinh. Số đồng lấy về nhiều đến nỗi sư còn dùng để tạc tượng Phật ở chùa Quỳnh Lâm, đúc chuông Quy Điền cho chùa Diên Hựu và vạc ở Phổ Minh. Một thiền sư đồng thời là một kiến trúc sư, một thợ đúc đồng có kỹ thuật, sau này đã được thợ đúc đồng suy tôn là ông tổ đúc đồng của Việt Nam. Vâng, có thể đó chỉ là huyền thoại, nhưng nó cho thấy Tăng sĩ Việt Nam thời Lý có nhiều tài, giúp ích nhiều và thiết thực cho cuộc sống của nhân dân. Kiến trúc thời Lý là một trong nhưng thành tựu nổi bật của lịch sử kiến trúc Việt Nam và nghiễm nhiên trở thành biểu tượng của đất nước; là sự tôn vinh một giai đoạn phát triển của nền văn minh Đại Việt. Tất cả các biểu tượng ấy đã minh chứng cho thái độ sống của người dân: đoàn kết, hoà hợp, độc lập, tự chủ, thanh bình.

    Thương đời, thương người, thương nước thiết tha, lại uyên bác phi thường, tài năng siêu thế, các thiền sư thời Lý đã cống hiến nguồn trí tuệ vô lượng để kiến thiết một quốc gia, một triều đại huy hoàng, làm vẻ vang cho sông núi. Dấn thân, nhập thế hùng tráng và vĩ đại như thế, các thiền sư đã cho dân tộc, cho con người thấy được giá trị đích thực của Phật giáo. Với phong thái hành xử tự tại, các thiền sư thời Lý luôn là bài học lớn cho hậu thế. Có thế lực, nhưng không mượn quyền thế để dương phong thanh thế cho tông môn hay cho riêng Phật giáo, mà luôn lấy đại cuộc xây dựng đất nước làm trọng, luôn cởi mở đối với những giáo phái hoặc các trào lưu tư tưởng khác. Nếu nhìn riêng ở một góc độ nào đó, có thể gọi họ là nhà ngoại giáo, nhà giáo dục, kiến trúc sư, lương y, tác giả văn học… nhưng trên tất cả họ chính là những nhà tu hành chân chính. Là những người xuất gia, các thiền sư vào đời giúp vua trị nước nhưng không hề bị bó buộc bởi thuyết trung quân của nhà Nho. Hành trạng của các vị thiền sư đã cho thấy phong cách khi tham gia chính trị của họ rất ung dung, tự tại, không cố chấp, không bị vướng vào những danh lợi tầm thường. Các thiền sư có đời sống riêng tại các tu viện để tu hành. Lịch sử Việt Nam chưa hề ghi lại một vị thiền sư nào đang tinh tấn tu hành mà cởi bỏ Tăng phục để khoát quan phục và ở cung điện của triều đình. Chỗ chư Tăng ở bao giờ cũng là chùa, áo các ngài mặc bao giờ cũng là manh áo cà-sa. Tất cả chỉ có vậy! Các thiền sư hằng ngày không bao giờ lai vãng chốn triều đình phiền toái. Chỉ khi nào các nhà lãnh đạo đất nước cầu điều gì minh giải mà quần thần gặp khó khăn thì lúc bấy giờ mới phái sứ giả đến chốn thiền môn cung thỉnh các ngài về triều thỉnh ý; giải quyết xong việc các ngài lại lui về chùa để tiếp tục tu hành, cứu giúp chúng sanh. Đời sống các thiền sư thanh cao, tự tại như vậy đã ảnh hưởng không ít đến nền chính trị thời Lý, từ các hàng vua chúa, quan lại cho đến việc định hướng một chính sách lấy Phật giáo làm tư tưởng chỉ đạo sớm nhất và thành tựu nhất trong lịch sử các quốc gia phong kiến phương Đông.

    Lịch sử đã chứng minh rằng: Phật giáo, dù du nhập vào Việt Nam bằng bất cứ con đường nào (đường biển từ Ấn Độ, hay đường bộ từ Trung Hoa), thì Phật giáo chắc chắn là không bao giờ theo gót chân của kẻ xâm lăng, cũng không bao giờ mở đường cho kẻ xâm lăng vào cướp phá đất nước! Vì bản chất của Phật giáo là “trí tuệ và từ bi”. Đức Phật đã dạy: “Này các tỷ kheo, hãy du hành vì hạnh phúc cho số đông, vì lòng thương tưởng cho đời, vì hạnh phúc cho chư thiên và nhân loại…”

    Các vị vua nhà Lý cùng với những vị thiền sư, quốc sư của họ đã không những ý thức một cách chính xác sự liên hệ giữa dân tộc và Phật giáo mà còn xây dựng rất sáng suốt một Đạo Phật Việt Nam hưng thịnh, sinh động trong lòng dân tộc vinh quang và độc lập. Sự thành tựu này không phải nhờ tôn xưng Phật giáo làm quốc giáo, tôn xưng các thiền sư làm quốc sư hay nhờ xây dựng nhiều chùa chiền, đúc tạc nhiều tượng Phật... mà chính nhờ biết lấy tinh thần từ bi, nhân bản và trí tuệ giải thoát của Phật giáo làm yếu tố chỉ đạo cho chính sách trị quốc, cho nền văn hoá, giáo dục, chính trị, kinh tế của quốc gia và cho đời sống tâm linh và xã hội của dân chúng.

    Nhìn lại chặng đường dài lịch sử Việt Nam, ôn lại cội nguồn truyền thống văn hoá của tổ tiên, ta sẽ rút ra được nhiều ý nghĩa cho cuộc sống thiết thực đương đại. Ta sẽ mãi mãi tự hào và trân trọng về một Đạo Phật luôn trong lòng dân tộc, luôn cùng dân tộc hướng đến sự an lành, hạnh phúc của chân, thiện, mỹ.

    CH.

     


    Chùa Định Quang

     

     

    Chùa Định Quang là một trong 6 ngôi chùa hiện nay của Phật Giáo Nguyên Thuỷ Thừa Thiên Huế,ngôi chùa này được xây dựng trên quê hương của Đức cố Tăng thống Giới Nghiêm;chùa nằm cách trung tâm Thành phố Huế khoảng 6 km về hướng đông nam,toạ lạc tại làng Dạ Lê,xã Thuỷ Phương,huyện Hương Thuỷ,TT-Huế.

    Chùa Định Quang được các vị Phật tử tín tâm của Ngài Giới Nghiêm mua đất và xây dựng vào năm 1962.Căn cứ bản sao hoạ đồ thì diện tích đất lúc các Phật tử của Chi Hội Phật Giáo Nguyên Thuỷ Dạ Lê mua là 3 sào 7 thước 5 tấc (1739m2),có hình chữ nhật,với  chiều dài được thể hiện trong bản đồ là 50m,chiều rộng hơn 30m. Diện tích và khuôn viên này ổn định từ năm 1962 tới 1975. Chùa Định Quang được xây dựng theo lối kiến trúc thuần tuý của  Phật Giáo Nam Tông, Ngôi chánh điện rộng khoản 50m2 và có khu Tăng xá 3 gian nằm bên trái chánh điện(hiện nay khu Tăng xá không còn).Sau khi mua đất và xây dựng chùa Định Quang vào năm 1962,Chi hội Phật giáo Nguyên Thuỷ Dạ Lê đã dâng cúng lên Giáo hội Tăng-già Nguyên Thuỷ Việt Nam(tiền thân của Hệ pháiPhật Giáo Nam Tông hiện nay),dưới sự chứng minh và thọ nhận của Đức Tăng Thống Giới Nghiêm và chư Tăng của Giáo hội TGNTVN.

    Sau khi khánh thành và thọ nhận chùa xong chư Tăng chỉ định cho những Phật tử thuộc Chi hội Phật giáo Nguyên Thuỷ Dạ Lê chăm sóc và quản lý ngôi chùa Định Quang này. Hằng năm vào mùa an cư,Chi hội Phật giáo Nguyên thuỷ Dạ Lê cung thỉnh chư Tăng về an cư nhập hạ và hướng dẫn cho những Phật tử tu học,truyền thống tốt đẹp ấy vẫn được duy trì cho đến 1975.

    Sau ngày đất nước thống nhất,cùng với nhiều lý do tế nhị khác,UBND xã Thuỷ Phương lấy Chánh điện chùa Định Quang sử dụng làm kho chứa gạo(1975-1986).

    Năm 1987 UBND xã Thuỷ Phương  không hiểu đã căn cứ vào điều luật nào của pháp luật,không có bất kỳ một văn thư thông báo thu hồi đất nào cho Chi hội Phật giáo Nguyên thuỷ Dạ Lê hoặc Tỉnh Giáo Hội  Phật Giáo Việt Nam mà đã tuỳ tiện lấy đất chùa Định Quang  cấp cho 1 hộ đảng viên cán bộ xã làm nhà,hiện nay khi chúng tôi viết bài này, chùa vẫn chưa chuộc lại được phần đất hợp pháp của Tam bảo.

    Thời gian thấm thoát trôi qua,những Phật tử kỳ cựu của Chi hội Phật Giáo Dạ Lê lần lượt từ trần,nhận thấy chùa mỗi năm mỗt xuống cấp trầm trọng tháng 7 năm 2002 các Phật tử trong chi hội đã làm thủ tục xin bàn giao toàn bộ cơ sở gồm đất đai và ngôi chánh điện lại cho Hệ phái Nam Tông TT-Huế thuộc GHPGVN. Tỉnh Giáo Hội đã tiếp nhận và ngày 8/3/2004 tỉnh Giáo hội đã ra công văn bổ nhiệm Thượng toạ Pháp Tông trụ trì.

    Ngày 29 tháng 5 năm 2005 chư Tăng đã về làm lễ nhập tự,có đại diện chính quyền các cấp và đông đảo chư thiện tín tham dự. Ngày 21/6/2005 Thượng toạ Pháp Tông đề cử Đại đức Chơn Hữu và sư Minh Hiền về trông coi chùa và hướng dẫn Phật tử tu học.

    Từ 6/2005 tới nay 7/2007: Sau ngày chùa có trụ trì và 2 sư về tới nay đã có một vài dấu hiệu tiến triển nhỏ như sau:

    -                     Khôi phục lại Chi hội Phật giáo Nguyên Thuỷ Dạ Lê.-                     Thường xuyên giảng dạy giáo Pháp,và sinh hoạt tu tập vào những tối 5,7,CN hang tuần,14,15,30,mùng1 hàng tháng tại chùa Định Quang.

    -                     Thượng toạ Pháp Tông đã truyền quy giới cho hơn 100 tân Phật tử.

    -                     Thành lập gia đình Phật tử thiếu niên và thiếu nhi.

    -                     Nhà chùa đã phối hợp với chính quyền địa phương làm từ thiện ,cứu trợ cho đồng bào bị thiên tai,tài trợ xe lăn cho những đồng bào bị tật nguyền và đang tiến hành kế hoạch giúp đỡ cho những nạn nhân nhiễm chất độc da cam…

    Tuy nhiên,hiện này tình trạng đất đai bị lấn chiếm của chùa Định Quang vẫn đang chờ các cấp chính quyền giải quyết.Ngôi chánh điện thờ Phật vẫn tiếp tục xuống cấp,mặc dù chư sư đã nhiều lần sữa chữa nhưng mùa mưa đến chùa vẫn bị thấm dột . Nơi ở của chư Tăng vẫn chưa có,quý sư vẫn ở tạm trong chánh điện. Hy vọng trong một ngày không xa Chùa Định Quang sẽ khôi phục lại được vóc dáng của một ngôi tổ đình trên đất Cố Đô như ngày xưa Đức  cố Tăng Thống Giới Nghiêm đã từng tác ý.

    Viết tại chùa Định Quang 7/2007,

    Tỳ khưu Chơn Hữu,

     

     


    óng góp bài v?
     

    Search for:  
    Định Quang
    Internet
    Danh Bạ Cần Thiết
    Quảng Cáo




  • Tạo Website tại pgvn.net: Đăng ký tự do
  • Websites Phât  Gíáo Đã Được  Đăng Ký:

  • Paltalk.com

    Download PalTalk
    & Become a member of PPNM


    Sáng Tác
    Mùa Vu Lan

    Thính Pháp

  • Hình ảnh Lễ Tạ Pháp - RM PPNM tổ chức ngày 17/8/08
  •  

    Nguyện đem công đức này, trang nghiêm Phật Tịnh Độ,
    trên đền bốn ơn nặng, dưới cứu khổ tam đồ,
    nếu có kẻ thấy nghe, đều phát tâm Bồ Đề,
    hết một báo thân này, sinh qua cõi Cực Lạc

    Search for:  
    Định Quang Internet

    Copyright ©  Website:
    Trù Trì: Tỳ Khưu Chơn Hữu, Email: Tỳ Khưu Chơn Hữu
    Webmaster: nhasuvodanh Email: nhasuvodanh
    Ngày thành lập Trang Web: 07/08/2007
    Mọi đóng góp, xin liên lạc qua đia chỉ:
    Email:chuadinhquang@yahoo.com.vn
    Thuỷ Phương,Hương Thuỷ, Thừa Thiên Huế
    Điện Thọai: 054 853101

    #Visits: 6816
    #Onlined:0


    Hồi hướng công đức